Cà phê Moka là loại cà phê gì?

Chúng ta thường gặp rất nhiều nơi bán cà phê Moka, nhưng điều trớ trêu là hỏi ngay cả người bán hạt cà phê Moka hình thù chính xác của nó ra làm sao, thì mỗi người đều trả lời một cách rất mù mờ. Số ít thì nói về cà phê Moka qua câu chuyện được người xưa kể lại

Trong khoảng năm 1595 một Giáo sỹ Dòng Tên là Pedro Páez, được cho là người đầu tiên nếm thử cái vị cà phê Mocha nổi tiếng ấy, thuật ngữ “Cà phê Mocha” liên kết với cái tên Socola và biến thành hỗn hợp Coffee-Chocolate thì đúng là một kết quả của sự ảnh hưởng từ Châu Âu, chứ người dân Mocha không trồng mà cũng chẳng nhập Socola. Nhờ vị trí đặc biệt như nằm ngay trong cái miệng của Biển Đỏ, mà thành phố cảng Mocha thời ấy nhộn nhịp bởi sự giao lưu hàng hóa, nơi ăn ở nghỉ của các đội tàu giữa các nước trong vùng Ấn độ dương – châu Á nối với Lục địa Đen.

Chúng ta đã biết giống cà phê nói chung đã theo chân của đoàn quân viễn chinh Pháp khi vào Việt nam, vào thế kỷ 19, những nhà Nông học Pháp thời đó thật là tinh tế và nhạy bén khi họ chọn trồng giống cà phê Mocha trên những đồi núi chập chùng của Cao nguyên Lâm viên, trong cùng một độ vĩ là 12 và độ cao cũng trong tầm 1500-1600m trên mặt biển như chính trên quê hương của hạt Mocha.

Đọc tiếp bài viết ở đây: >> Cà phê Moka là loại cà phê gì?

ca phe moka la gi

Hạt cà phê Moka được trồng ở Cầu đất – Đà Lạt, thoạt nhìn rất giống với hạt Robusta về màu sắc, nhưng tròn hơn nhiều

Tuyên ngôn cà phê

Mới đọc cái tiêu đề, hẳn cũng có bạn sẽ nghĩ rằng: “cường điệu” – mua cà phê, bán cà phê, nhà rang xay cà phê như bao nhiêu ngành nghề khác, há gì mà phải nói là tuyên ngôn nghe nổ như pháo tết.

Thực ra nguyên nghĩa của cái chữ “tuyên ngôn” cũng chẳng có gì to tát, chẳng qua đó là một lời (ngôn) tuyên bố quan điểm, sự kiện… của mình. Không nhất thiết phải liên tưởng cái chữ “Tuyên ngôn” với điều gì quá vĩ đại để rồi tự nhiên thấy không dám sử dụng nó cho những sự kiện khác.

Một chị bán thịt thì quyết tâm với chuyên môn bán thịt, vẫn biết rằng thịt vẫn thường được nấu chung với rau, hay có khi khách không mua thịt thì chuyển sang mua cá, nhưng không vì thế mà lại bỏ thêm món rau bên cạnh, hay kèm thêm vài cân cá để tiện cho khách hàng mua, còn mình thì để kiếm thêm tí lời. Chị ta tuyên bố: Tôi chỉ bán thịt.

Đọc tiếp: >> http://www.y5cafe.vn/tuyen-ngon-ca-phe/

tuyen ngon ca phe

Cà phê chồn của Y5Cafe

Cà phê chồn – Y5cafe xin được giới thiệu đến Quý khách hàng sản phẩm “Cà phê Chồn“, loại cà phê đặc biệt đã đi vào huyền thoại. Sản phẩm Cà phê Chồn sẽ là món quà ưng ý của qúy khách mà công ty Y5cafe hân hạnh được phục vụ.

Quý khách có nhu cầu đặt mua cà phê chồn, tìm hiểu thông tin về cafe chồn xin gọi:

0945 745 536Gặp Hương

Cà phê chồn của Y5cafe

Cà phê chồn

Sản phẩm cà phê chồn của Y5cafe

Trang trại cà phê chồn của Y5cafe tại Lâm Hà

ca phe chon
Trang trại nuôi chồn của Y5cafe tại Lâm Hà (Lâm Đồng)


Cafe chon
Chúng tôi chọn những hạt cà phê chín mọng, chất lượng nhất


cafe_chon_22
Cà phê chín mọng là món ăn khoái khẩu của loài chồn hương


cafe_chon_29

cafe_chon_31

Sản phẩm cà phê chồn của Y5cafe là món quà ý nghĩa và sang trọng nhất dùng để biếu tặng, là sản phẩm cà phê cao cấp giành cho những tâm hồn đam mê cà phê thật sự.

Đặt mua cà phê chồn

Để tìm hiểu thêm về thông tin cà phê chồn, giá cafe chồn hoặc đặt hàng cà phê chồn.
Quý khách vui lòng gọi:

0945 745 536Gặp Hương

Cám ơn quý khách đã yêu mến và sử dụng cà phê chồn.

Thu 24 tỷ đồng/năm từ rau má

Đó là khoản thu nhập “chắc như bắp” của xã viên HTXNN 1 Nhơn Phú, TP Quy Nhơn (Bình Định). Nhờ trồng rau má, gần 4.000 nhân khẩu đã có thu nhập ổn định.

Chúng tôi về vùng rau má Nhơn Phú vào đầu tháng 3, là thời điểm nông dân ra sức chăm sóc đợi ngày thu hoạch. Ông Nguyễn Văn Bùi- Chủ nhiệm HTXNN 1 Nhơn Phú nhớ lại: “Nghề trồng rau má ở địa phương đã lâu, tuy nhiên chỉ có dăm ba héc ta trên đất màu để làm rau ăn sống chứ chưa trở thành hàng thương phẩm. Khi thấy cây rau má cho thu nhập khá cao, nông dân dần nhân rộng diện tích. Từ năm 2000 đến nay, cây rau má phát triển vùn vụt với gần 500 hộ tham gia trên diện tích canh tác ổn định hơn 60 ha”.

Chạy xe máy dạo quanh các khu vực 3,4,5 thuộc địa bàn Nhơn Phú dưới cái nắng gay gắt, nhưng màu xanh của cánh đồng rau má luôn tạo cho chúng tôi cảm giác mát mẻ. Tại tổ 4, KV3, chúng tôi ghé lại bắt chuyện với mấy phụ nữ đang ngồi dưới đám ruộng. “Gia đình tui có 5 sào rau má nên khi làm cỏ phải thuê chị em trong làng giúp cho. Nếu không làm cỏ kịp thì rau kém phát triển, đến thời hạn thu hoạch rau xấu bán được ít tiền”, chị Nguyễn Thị Bảy cho biết.

Theo người dân nơi đây thì trồng rau má không khó, quy trình chăm sóc để làm ra rau sạch đã có cán bộ BVTV thường xuyên mở lớp tập huấn hướng dẫn bà con nông dân. Khó nhất là khâu giống, bởi chẳng có đơn vị nào bán giống rau má. Do vậy nông dân phải tự trồng rồi nhân giống dần dần. Những hộ trồng mới phải nhờ vào sự chia sẻ về giống rau của những hộ trồng trước. Tính đoàn kết, hỗ trợ nhau trong SX của nông dân ở đây là yếu tố chính để hình thành nên vùng trồng rau má chuyên canh mang tên Nhơn Phú.

Theo những người trồng rau má, từ 20- 25 ngày là rau má cho thu hoạch 1 lứa. Trừ những tháng mưa dầm, mỗi năm rau má cho thu hoạch ít nhất 8 lứa. Mỗi lứa, 1 ha rau má cho thu hoạch ít nhất 10 tấn rau. “Rau má đắt nhất vào mùa nắng nóng, bởi nhu cầu dùng rau làm sinh tố rất cao. Hiện nay tại Bình Định rau má được bán với giá 8.000 đ/kg. Mà không có để bán, bởi mùa nắng đắt như tôm tươi”, chị Lê Thị Nghĩa, chủ 3 sào rau má cho biết.

Ông Nguyễn Văn Bùi tính toán: “Trên diện tích 60 ha, với năng suất bình quân 500 kg/sào/lứa, mỗi năm bà con trong HTX thu được khoảng 4.800 tấn rau má. Với cái giá bình quân là 5.000 đ/kg, mỗi năm người dân nơi đây thu được khoảng 24 tỷ đồng”.

[trichdan]“Nhờ cây rau má, gần 500 hộ nông dân trong HTX xây dựng được nhà khang trang, sắm xe máy xịn và cho con cái học hành đến nơi đến chốn. Những hộ có nhiều diện tích trồng rau má còn phất lên làm giàu”, ông Nguyễn Văn Bùi.[/trichdan]Do hiệu quả kinh tế cao nên nông dân ở HTXNN 1 Nhơn Phú đã tự chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng rau má gần hết diện tích canh tác. Anh Bùi Văn Thanh ở KV 3 đã chuyển 3 sào đất lúa sang trồng rau má đã 10 năm cho biết: “Mỗi ha đất trồng lúa cho thu hoạch 2 vụ/năm được khoảng 10 tấn. Với giá lúa hiện nay là 7.000 đ/kg, khoản thu nhập toàn năm khoảng 70 triệu đồng. Trừ chi phí hết 40 triệu, nông dân chỉ còn lãi khoảng 30 triệu đồng. Trong khi đó, 1 ha rau má cho thu nhập ít nhất 150 triệu đồng/năm. Trừ chi phí 1 nửa, người trồng chắc ăn lãi ròng 75 triệu. Do vậy, hầu hết bà con có đất ruộng ở đây đã chuyển từ làm lúa sang trồng rau má gần hết diện tích”.

Đầu ra của rau má là vô cùng, nông dân không cần mang ra chợ bán, đến kỳ thu hoạch, thương lái đến tận ruộng để thu mua. Ngoài cung ứng cho người tiêu dùng ở TP Quy Nhơn, rau má của Nhơn Phú còn có mặt khắp nơi trong tỉnh, ra đến Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và lên tận các tỉnh Tây Nguyên.

Không chỉ mang lại cuộc sống ổn định cho gần 500 hộ trồng rau má, nghề này còn góp phần giải quyết thời gian nông nhàn cho lao động nữ tại địa phương với những công việc nhổ cỏ, thu hoạch. Mỗi năm, nghề trồng rau má ở Nhơn Phú thường xuyên thu hút khoảng 1.000 lao động tham gia với mức thu nhập 60.000 đ-70.000 đ/ngày công.

Braxin tăng ngân sách dự trữ do giá cà phê giảm mạnh

Chính phủ Braxin dự tính tăng gấp đôi ngân sách cho việc dự trữ cà phê lên 1,5 tỉ Real (khoảng 840 triệu USD) nhằm giúp nhà sản xuất cà phê tăng khả năng dự trữ và bán cà phê ở thời điểm thuận lợi nhất.

Ủy ban cà phê quốc gia Braxin (CNC), nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, đã đưa ra lời khuyên người trồng cà phê trong nước không nên lo lắng sau khi giá loại nông sản này sụt giảm tới 17% trong năm nay.

Giá cà phê Arabica giao dịch trên sàn New York hôm 6/3 đóng cửa ở 1,9305 USD/ pound. Đây là lần đầu tiên thị trường cà phê đóng cửa ở mức dưới 2 USD/ pound kể từ 3/11/2010.

cà phê braxin
Ủy ban cà phê Braxin trấn an dư luận trước tình hình giá cà phê giảm mạnh

Theo ông Silas Brasileiro, chủ tịch CNC, những yếu tố cơ bản của thị trường khá tích cực tuy nhiên diễn biến thị trường gần đây không liên quan gì tới các yếu tố này. Cung cầu của thị trường vẫn bám sát nhau. Trữ lượng cà phê trên thế giới được duy trì hạn chế, trong khi nhu cầu tiêu dùng vẫn tiếp tục tăng lên. Ông cũng đồng thời lên tiếng khuyến cáo người trồng cà phê không nên lo lắng.

CNC cũng đang làm việc với chính phủ nhằm đề nghị tăng nguồn tài chính hỗ trợ cho người trồng cà phê, mục đích nhằm đảm bảo giá cà phê không bị ảnh hưởng khi việc bán sản phẩm diễn ra tập trung trong thời gian ngắn. Theo phát biểu của ông Edilson Martins de Alcantara, người đứng đầu bộ phận cà phê thuộc Bộ nông nghiệpBraxin, cho biết: “Chính phủ dự tính tăng gấp đôi ngân sách dùng cho việc dự trữ cà phê lên 1,5 tỉ Real (khoảng 840 triệu USD), đề xuất này có khả năng sẽ được phê duyệt vào tháng này”. Ông cũng chia sẻ đề án này là nhằm mục đích giúp nhà sản xuất cà phê tăng khả năng dự trữ và bán cà phê ở thời điểm thuận lợi nhất.

Theo dự báo của chính phủ Braxin thì sản lượng cà phê sẽ đạt mức cao kỷ lục vào nông vụ 2012-2013. Ngoài ra theo báo cáo của Conab, văn phòng dự báo trực thuộc chính phủ, thì sản lượng sẽ đạt từ 49 – 52,3 triệu bao, vượt mức cao là 48,5 triệu bao năm 2002.

Cây Hông(Paulownia) – loài cây có năng suất sinh khối cao

Nếu những ai mới nhìn cây hông khi cây còn non tuổi và biết được tốc độ sinh trưởng của nó thường cho rằng gỗ cây hông giống như cây đa, không có giá trị kinh tế. Nhưng kỳ thực cây Hông có nhiều ưu điểm mà các cây khác không dễ gì sánh được.

Cây hông (Paulownia) là cây gỗ lớn, có tốc độ sinh trưởng nhanh. Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới có điều kiện tự nhiên thích hợp với cây hông đã chọn cây hông làm cây lâm nghiệp và chú ý phát triển. Ở Việt Nam cây hông phân bổ trong rừng tự nhiên ở một số tỉnh phía Bắc giáp với biên giới Trung Quốc. Đồng bào các tỉnh này đã từng dùng gỗ cây này làm chõ hông xôi nên có tên là cây Hông. Tuy nhiên, trước đây cây hông ít được ngành lâm nghiệp và bà con chú ý đến. Những năm gần đây khi có những công trình nghiên cứu cây hông của các nhà khoa học thì cây hông mới bắt đầu được quan tâm và trồng thử nghiệm ở một số địa phương.


Cây Hông 3 tháng tuổi

Theo TS Thái Xuân Du (Viện Sinh thái nhiệt đới), người có nhiều năm nghiên cứu cây hông cho rằng, cây hông là “vua” của loài cây lâm nghiệp. Theo ông Du thì, cây hông có nhiều ưu điểm: dễ trồng, thích nghi ở nhiều loại đất, lớn rất nhanh (sau 6-7 năm trồng, cây cao hơn 10m, đường kính 35-40cm), gỗ nhẹ, không bị mối mọt, ít bị biến dạng khi thời tiết thay đổi…

Còn theo tài liệu của Trung Quốc, cây Hông được mệnh danh là “nhà vô địch về mọc nhanh”, kết quả được công bố: Cây 5 tuổi có đường kính bình quân 19,9 cm, cao 7-8m, thể tích cây đứng 0,117 m3/cây; cây 8 tuổi D1,3=29,5 cm, H=10,35m, 11 tuổi D1,3=38,38 cm, H=12,46 m, Đường kính có thể đạt 90-100cm trong vòng 30 năm và 200 cm trong vòng 80 năm. Cây Hông sống lâu năm, cho sinh khối lớn: Cây 31 năm tuổi D1,3=100,5 cm, H=21,7 m, 75 tuổi D1,3=134,4 cm, H=44 m, cây 80 năm tuổi ở Quý Châu- Trung Quốc, đường kính 202 cm, chiều cao 49,5m, thể tích 34m3/cây.

Gỗ Hông: Có tỷ trọng nhẹ (0,26-0,27g/cm3), độ cứng tương đương gỗ nhóm 5. Không bị mối mọt và ít bị mục (tại Hồ Bắc- Trung Quốc khai quật cỗ quan tài sau 200 năm gỗ vẫn còn tốt. Trung Quốc có những ngôi nhà làm bằng gỗ này đã tồn tại hàng trăm năm). Gỗ có tỷ lệ co rút nhỏ dưới 0,45%, ít bị biến dạng và không bị cong vênh nứt nẻ, cách điện và cách nhiệt tốt. Hàm lượng xenlulô trong gỗ trung bình 48-51%.

Chính vì những ưu điểm đó, gỗ Hông được dùng trong nhiều lĩnh vực kinh tế và đời sống như làm đồ gia dụng, ván dán, ván sợi ép, trần nhà, trang trí nội thất, thùng đựng hàng, bao bì và các vật dụng khác. Gỗ Hông còn được dùng làm nhạc cụ, đóng tàu lượn, lót vỏ máy bay, toa xe, du thuyền, ván lướt và sản xuất bột giấy cao cấp (giấy in tiền).

Ngoài gỗ, lá cây có hàm lượng đạm cao và các nguyên tố vi lượng khác, được dùng làm thức ăn cho gia súc, cành rơi lá rụng có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì đất. Cây Hông mọc nhanh nên chóng phát huy tác dụng phòng hộ, lá to có nhiều lông hữu ích trong việc làm sạch bụi và khói giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hoa để nuôi ong và làm thuốc chữa bệnh, vỏ cây chế thuốc nhuộm. Than đốt từ gỗ Hông dùng làm than hoạt tính, sử dụng bột pháo hoa, bột chì màu. Gỗ Hông còn có khả năng chống cháy, nhiệt độ cháy thông thường của gỗ từ 2230C đến 2570C, điểm cháy của gỗ Hông ở nhiệt độ 4250C. Đặc điểm này đáng chú ý, có thể trồng cây Hông để làm đường băng xanh cản lửa phòng chống cháy rừng. Giá thương phẩm của gỗ tùy theo quy cách, phẩm chất và tuổi của cây gỗ. Theo báo Nông nghiệp số 201 ra ngày 26-10-2002, gỗ khai thác ở tuổi 6 có giá khoảng 120-150 USD/m3 gỗ tròn, theo thông tin Kinh doanh và tiếp thị ra ngày 14-10-2002, giá gỗ Hông trên thị trường rất cao khoảng 700-1.000 USD/m3 gỗ.

Một số mô hình đã trồng công cây Hông được sự quan tâm chú ý như mô hình trồng xen canh cây hông với cà phê huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum với diện tích khoảng 32 ha. Qua theo dõi, cây hông sinh trưởng tốt. Tại vườn cây hông của ông Nguyễn Văn Hạp (xã Đăk Mar huyện Đăk Hà) cây hông được trồng thuần trên đất bằng, diện tích 2ha với kích thước 5mx5m/cây- mật độ 400 cây/ha. Nhiều người đến đây tham quan ai nấy đều trầm trồ khen ngợi. Bình quân cây hông trong vườn này cao 7m, đường kính thân 0,27m, tỷ lệ cây sống 97%, khối lượng gỗ khoảng 133m3/ha. Vườn cây hông của ông Phạm Thanh Sơn (thôn 12, xã Đăk Hring) trồng năm 2002. Cây hông được ông Sơn trồng xen trong vườn cà phê trên đất dốc với kích thước 6mx3m/cây-mật độ 550 cây/ha. Đến nay bình quân cây cao 6m, đường kính 0,19m, tỷ lệ cây sống 95%, khối lượng khoảng 71m3 gỗ/ha.

Hay như mô hình trồng trồng thử nghiệm tại một số điểm thuộc huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. Kết quả cho thấy cây Hông có tỷ lệ sống trên 90%, khả năng sinh trưởng rất nhanh. Rừng trồng 18 tháng tuổi trên đất hơi nghèo đến trung bình ở xã Địch Quả đạt đường kính trung bình trên 5cm, cao 4-5m. Trong đó, một số cây có đường kính trên 10cm, cao 7m. Cây trồng phân tán ở Ban quản lý vườn quốc gia Xuân Sơn (đất tốt) đường kính đạt 16-20cm, cao 7-8m. Gia đình ông Thắng trồng ở hè phố thị trấn Thanh Sơn, cây 18 tháng tuổi đạt đường kính 22cm. Bạch đàn mô, keo lai là cây trồng chủ lực và sinh trưởng nhanh nhất hiện nay nhưng chưa đạt tới 16-22cm/18 tháng tuổi như cây Hông nêu trên.

Có thể nói cây hông là cây lâm nghiệp có triển vọng (vừa có giá trị kinh tế cao vừa có chức năng phòng hộ nhanh). Có thể trồng phân tán, trồng thành rừng tập trung hoặc trồng xen theo phương thức nông lâm kết hợp. Tuy nhiên, phải chọn điều kiện lập địa phù hợp và tùy mục đích sử dụng rừng mà chọn phương thức trồng mới đem lại kết quả. Vấn đề đang quan tâm là việc tìm đầu ra cho cây hông phải được quan tâm đúng mức để người dân có thể yên tâm đưa vào sản xuất và làm giàu từ cây hông.

Đăk Lăk: Sắn rớt giá nông dân gặp khó

Ea Súp là một trong những huyện có diện tích trồng sắn (mì) lớn của tỉnh. Những năm trước giá sắn lên cao, nông dân ồ ạt chặt bỏ các loại cây trồng và hoa màu để trồng sắn. Tuy nhiên, năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, giá sắn đang rớt giá liên tục khiến người dân điêu đứng.


Mua bán sắn tại xã Ia R’vê.

Sau nhiều tháng bỏ công sức, tiền bạc vào việc trồng sắn, tưởng sẽ được đền bù xứng đáng, vậy mà giờ đây ông Mai Hữu Huỳnh, thôn 4 (xã Ia R’vê) đang rất lo lắng khi giá sắn xuống thấp. Ông cho biết: “Những năm trước, gia đình tôi trồng đậu và bắp nhưng cho năng suất không cao. Đến năm 2010, tôi trồng thử nghiệm 2 ha sắn, tới vụ thu hoạch được 24 tấn, với giá tại thời điểm đó, trừ chi phí còn lãi 30 triệu đồng/ha. Thấy việc đầu tư có hiệu quả, năm 2011, gia đình tôi quyết định trồng thêm 5 ha sắn. Nhưng giá sắn đột ngột giảm mạnh khiến gia đình tôi thất thu.

Theo tính toán, trừ công chăm sóc và chi phí sản xuất chỉ còn thu được lãi 5 triệu đồng/ha. Nhưng như thế vẫn còn tốt hơn nhiều gia đình khác”. Ông Huỳnh còn cho biết thêm, việc trồng sắn chỉ là biện pháp tạm thời trước mắt, vì càng về sau công và chi phí cho việc trồng sắn là rất lớn, nếu trừ đi tất cả chi phí thì nông dân chỉ có thể thua lỗ chứ không thể lời được.

Cũng như ông Huỳnh, gia đình bà Trương Thị Oanh, thôn 4 (xã Ia R’vê) đang dở khóc dở cười khi 14 ha sắn sắp thu hoạch xong mà không có ai hỏi mua. Bà ngán ngẩm cho biết: “Năm nay giá sắn xuống quá thấp, tại nơi thu hoạch sắn chỉ được mua với giá 1.000 đồng/kg, trong khi đó chi phí đầu tư từ khâu giống, phân bón, công thuê… mỗi ha sắn tốn hết 20 triệu đồng. Với giá sắn như hiện nay, gia đình tôi vụ này thua lỗ khoảng 200 triệu đồng”.

Theo số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp-Phát triển nông thôn huyện Ea Súp, do giá sắn năm 2010 tăng đột biến nên nhiều hộ nông dân trên địa bàn đã chuyển đổi diện tích sang trồng sắn với tổng diện tích sắn toàn huyện là 1.500 ha, tập trung chủ yếu ở các xã như Ia R’vê, Ya T’Mốt, Cư Kbang… Với giá thu mua tại thời điểm đó, bình quân mỗi ha sắn cho lãi từ 25-30 triệu đồng/ha, gấp nhiều lần so với các loại nông sản khác. Vì vậy, thấy lãi lớn, nhiều người dân đã ồ ạt đổ xô trồng sắn. Diện tích trồng sắn từ 1.500 ha năm 2010 đã tăng lên 5.000 ha trong năm 2011.

Tuy nhiên, đến nay, chỉ có khoảng 70% diện tích này được thu hoạch do khâu tiêu thụ bị trì trệ kéo dài. Đây là hậu quả của việc phát triển cây sắn ồ ạt, tràn lan không hề tính tới sự thất thường và rủi ro của thị trường tiêu thụ. Hiện tại giá sắn đã giảm xuống mức 1.000-1.200 đồng/kg sắn tươi và 3.000-3.500 đồng/kg sắn khô, giảm một nửa so với giá bán năm 2010 (2.000-2.200 đồng/kg sắn tươi và 5.500-6.000 đồng/kg sắn khô). Trong khi giá sắn giảm mạnh thì giá cây giống, phân bón, chi phí thu hoạch, vận chuyển ngày càng tăng khiến người dân thua lỗ nặng.

Cà phê no ấm

Buổi trưa, một “cơn mưa vàng” từ trời cao ào xuống hào phóng khiến những hộ nông dân trồng cà phê ở xã Đinh Trang Thượng (huyện Di Linh) không giấu được niềm vui.

Anh Nguyễn Văn Duyên (thôn 6, xã Tân Lâm) có hơn 2 ha cà phê tại thôn 8 xã Đinh Trang Thượng vui ra mặt: “Trận mưa mang lại nguồn lợi cho gia đình tôi khoảng 15 triệu đồng đấy, anh ạ! Nếu tính cả xã này thì cái lợi mà cơn mưa mang đến là lớn lắm!”.

Chiều hôm trước, tôi ghé lại nhà anh K’Sét (người dân tộc thiểu số) ở thôn 2, xã Đinh Trang Thượng. Con trai đầu của K’Sét là K’Suê lôi từ trong tủ ra đống ảnh khổ lớn “đố” tôi: “Chú nhìn mấy bức ảnh bố cháu chụp ở Hà Nội này xem bố cháu đứng ở đâu?”. Bên ngoài, K’Sét (50 tuổi) râu ria rậm rạp trông cứ như là người ngoại quốc. Trong ảnh, không thấy người nào có râu nên tôi chịu thua K’Suê. K’Sét cười hiền và bảo: “Hồi đó đi Hà Nội, mình chưa để râu. Giờ, càng nhiều tuổi, râu càng nhiều. Mình hai lần được đại diện nông dân người bà con mình đi dự hội nghị điển hình ở Hà Nội, vui lắm!”.


Xoài cao cấp trong vườn cà phê của anh K’Sét hứa hẹn một mùa bội thu

Vườn cà phê tiền tỷ

– “Nghe bảo K’Sét đang “dẫn đầu” về mô hình cà phê xen canh ở huyện, ít nhất là trong đồng bào người dân tộc thiểu số Đinh Trang Thượng. Vậy, cho mình xem tận mắt được không?”. K’Sét bảo: “Mình có 5 ha ở gần đây. 5 ha này “ngon lành” từ nhiều năm nay rồi. Giờ muốn “xem” thì vô trong Liêng Trang để thấy cái mô hình cà phê trồng xen của mình đang gầy dựng 9 ha trong đó”.

Đúng hẹn, sáng hôm sau, tôi vào tận thôn 8 giáp với thôn 9, gần thủy điện Đồng Nai 3 (thuộc vùng đất Liêng Trang xưa). Từ thị trấn Di Linh vào đến vườn “mẫu” của K’Sét khoảng 35 km. Như vậy, K’Sét đã vượt quãng đường hơn 20 km từ nhà (thôn 2, xã Đinh Trang Thượng) vào Liêng Trang để làm cà phê “mẫu”. K’Sét bảo: “Hơn hai năm trước, mình được xã cho đi tham quan học tập mô hình cà phê điểm ở mấy tỉnh Tây Nguyên rồi mới về làm như thế này đây!”. Tôi đã có một buổi sáng dạo đến nhừ chân để tận mắt nhìn thấy mô hình “cà phê xen” của K’Sét. Trên diện tích 9 ha thênh thang này, cà phê là cây trồng không thể thiếu là điều dĩ nhiên rồi, K’Sét còn trồng xen xoài cao cấp, mắc ca và đặc biệt là trồng xen cây pôlôvia. Đó là chưa kể mấy cái hồ vừa chứa nước tưới vừa nuôi cá và các loại cây trồng “chơi” khác như chuối, hoa màu… Riêng cây pôlôvia, K’Sét bảo rằng khi tham quan ở Tây Nguyên, anh đã “chết mê” cái mô hình này nên đã ký hợp đồng với một đơn vị chức năng ở TP. HCM để cung cấp cây giống và kỹ thuật để trồng. “Cứ 8 mét trồng một cây. Tổng cộng gần 3.000 cây pôlôvia đã được trồng. Có cây được ba năm tuổi, cây thì hai, cây thì mới trồng vài tháng”. Pôlôvia hiện đang được xem là “cây đôla” của Tây Nguyên. Tính trung bình cứ 7 năm thì pôlôvia sẽ cho thu hoạch; bình quân mỗi cây cho thu nhập trên dưới 15 triệu đồng. Như vậy, chỉ vài năm nữa, gần 3.000 cây pôlôvia của K’Sét sẽ mang lại một khoản tiền khổng lồ. Thêm nữa, vài chục tấn xoài cao cấp mỗi năm cũng sẽ là một khoản tiền không hề nhỏ. Và, cùng với cà phê, tính ra, mỗi vụ, vườn “cà phê xen” của K’Sét cho thu nhập không dưới 1 tỷ đồng.

Buổi sáng đi thăm vườn, thấy cây cà phê héo lá, tôi ái ngại: “Trời cứ chang chang như thế này, cây bị ảnh hưởng lắm!”. K’Sét nói: “Mình hai đợt tưới cho cây rồi đấy. Mỗi đợt tưới phải mất vài chục triệu đồng. Nếu không mưa, chắc nay mai phải tưới tiếp đợt ba. “Cà” đang bước sang năm thứ năm, vừa ra bông đợt ba, không thể thiếu nước được”. Buổi trưa, bất ngờ một cơn mưa hào phóng tuôn hơn một tiếng đồng hồ. K’Sét vui ra mặt. Tôi nhận ra ly rượu đế cũng ngọt lịm cùng với đĩa thịt heo tộc được người nhà của anh thịt để đãi khách trong buổi trưa này ngay tại vườn cà phê tiền tỷ của K’Sét.

Nỗi lo còn đó

Bữa tiệc nhỏ trong cơn mưa hào phóng ngay tại căn nhà gỗ đơn sơ giữa vườn cà phê có chút cay nên khiến K’Sét hào hứng: “Vụ “cà” vừa rồi tuy giá cả không cao nhưng mình cũng có được vài tỷ, dành phần lớn để đầu tư vào đây. Vụ tới, riêng “cà”, mình tính chắc cũng được hơn hai chục tấn. Có vậy mới đầu tư vào các thứ khác chớ!”.

Ngày trước, khi nói chuyện với đồng bào dân tộc thiểu số ở khắp các buôn làng, tôi không mấy khi được bà con tính đến con số tiền tỷ. Nay thì khác rồi. Với những người làm cà phê vài ba hecta trở lên, chuyện tiền tỷ không còn xa lạ. Tuy nhiên, đầu tư trồng “cà phê no ấm” kiểu như K’Sét thì không phải bà con nào cũng làm được. Đến lúc này, cà phê xen pôlôvia của K’Sét là mô hình đầu tiên trong vùng dân tộc thiểu số của huyện Di Linh (cả huyện chỉ mới có thêm vài ba người Kinh thực hiện mô hình này). Đang nâng ly rượu, bỗng K’Sét trầm giọng: “Bà con mình thiếu vốn là một nỗi lo. Còn cái lo khác là nạn phân giả, phân kém chất lượng mấy năm qua phổ biến ở huyện Di Linh khiến cho nhiều người điêu đứng. Cà phê đang tươi tốt, bỗng “gặp” phải phân kém chất lượng thì coi như mất đứt cả một năm trời! Tiền tỷ coi như trôi xuống sông!”.

Lâm Đồng có đến 135.000 ha cà phê. Một số liệu khác của Sở Công thương Lâm Đồng từng công bố: Có năm, Lâm Đồng phát hiện đến những 250 mẫu phân bón (trong hơn 3.000 mẫu lưu hành) kém chất lượng của 54 đơn vị sản xuất phân bón trong cả nước. 30% phân kém chất lượng trong tổng số 600.000 tấn phân nhu cầu mỗi năm đó đã làm cho vài chục ngàn hecta cà phê của Lâm Đồng bị ảnh hưởng xấu. K’Sét nói với tôi: “Nghe bảo, theo quy định, đơn vị nào mỗi năm có 3 lần bị phát hiện sản xuất phân bón giả mới “bị” công bố danh tánh. Còn nhà vườn chúng tôi, chỉ cần một đợt “dính” phân kém chất lượng thôi là coi như tiền tỷ cả năm trôi vèo xuống suối!”. Nghe K’Sét (một trong những điển hình làm “cà phê no ấm” của người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Đinh Trang Thượng) nói, tôi lại nghĩ đến chuyện thương hiệu cà phê Di Linh: Đây là thương hiệu đã được công nhận. Ở Di Linh, cà phê chiếm đến 70% diện tích đất nông nghiệp của huyện. Vậy, chuyện phân bón kém chất lượng đang lộng hành trong vùng cà phê trọng điểm ắt không là chuyện “xử theo lý” khi sự việc đã xảy ra mà ngay từ đầu, các cơ quan chức năng cần vào cuộc để cho nó đừng xảy ra mới là điều quan trọng.

Thị trường hạt tiêu Việt Nam vẫn “bình chân như vại”

Những ngày qua, biến động giá trên thị trường hạt tiêu Ấn Độ không chỉ làm cho cả thế giới “sững sờ” mà còn làm cho người sản xuất lẫn giới kinh doanh hạt tiêu Việt Nam gần như bị mất phương hướng.

Từ ngạc nhiên…

Nhu cầu hạt tiêu thế giới gia tăng bình quân 5% mỗi năm, nhưng sản lượng tại các nước trồng tiêu sụt giảm nên đã khẳng định trong năm 2011 thế giới sẽ thiếu hụt khoảng 35.000-40.000 tấn hạt tiêu các loại.

Hội nghị quốc tế về hồ tiêu tại Bali Indonesia do IPC tổ chức cuối năm vừa qua tiếp tục khẳng định, năm 2012 thế giới tiếp tục thiếu hụt hạt tiêu mặc dù sản lượng dự kiến sẽ thu được 320.000 tấn so với 298.000 tấn của năm trước. Trong đó các nước sản xuất tiêu hàng đầu là Ấn Độ giảm 5.000 tấn xuống còn 43.000 tấn, Việt Nam sẽ tăng 10% lên 110.000 tấn và Indonesia sẽ tăng 24% lên 35.000 tấn.

Thế mà, giá hạt tiêu kỳ hạn trên thị trường Kochi-Ấn Độ từ đầu năm đến nay chỉ thấy tăng, không hề giảm.

Còn nhớ, kỷ lục trên thị trường kỳ hạn thế giới đầu tiên còn ghi nhận là ngày 1/11/1999 với 265 Rupi/kg cho tiêu xô và 275 Rupi/kg cho tiêu chọn. Đến ngày 30/4/2011, nghĩa là sau hai năm rưỡi, thiết lập mốc kỷ lục mới ở 280 Rupi/kg cho tiêu xô và 290 Rupi/kg cho tiêu chọn. Các nhà quản lý thị trường khi ấy cho rằng giá đang hướng tới mốc 300 Rupi/kg sẽ không còn xa khi mà chưa có năm nào thị trường hạt tiêu thế giới tăng nóng như năm 2011.

Không chỉ như vậy, giá tiêu thế giới đã lập đỉnh kỷ lục của năm 2011 vào ngày 21/9 khi tiêu chọn đạt 364 Rupi/kg và tiêu xô đạt 360 Rupi/kg, mức cao chưa hề có và không một nhà kinh doanh hạt tiêu chuyên nghiệp nào dám nghĩ tới . Sau đó giá tiêu thế giới quay đầu và dự báo hứa hẹn sẽ tăng cao trở lại khi các nước sản xuất chính hoàn tất mùa thu hoạch tiêu năm nay.

Cần khẳng định đến thời điểm này thu hái sớm như Ấn Độ mới chỉ được khoảng 3/4 sản lượng và Việt Nam, nước có sản lượng đứng đầu thế giới, cũng mới chỉ có 1/3 diện tích thu hoạch xong. Nhưng giá hạt tiêu thế giới đã vô cùng nóng. Kỷ lục mới, sớm được thiết lập ngày 7/3/2012 vừa qua, khi thị trường Ấn Độ có giá 400 Rupi/kg cho tiêu xô và 413 Rupi/kg cho tiêu chọn. Mức giá kỷ lục mà theo một nhà môi giới “có nằm mơ cũng không nghĩ đến”, còn các nhà phân tích thị trường hạt tiêu thế giới cũng chỉ biết lặp đi lặp lại mấy từ “tăng, tăng và tăng ; nóng, nóng và nóng ; cay, cay và cay”… để nói về thị trường hạt tiêu Ấn Độ lúc này.

Không chỉ các nhà kinh doanh hạt tiêu thế giới sững sờ ngạc nhiên mà những ai quan tâm đến thị trường hạt tiêu Việt Nam cũng ngạc nhiên không kém, vì “cả thế giới đang xôn xao mà Việt Nam bình chân như vại”…

bieu do gia hat tieu the gioi Thị trường hạt tiêu: Cả thế giới xôn xao, Việt Nam bình chân như vại

…đến mất phương hướng

Khi có thông tin sàn SMX tại Singapore sẽ đưa hạt tiêu vào giao dịch kỳ hạn, nguồn hàng được lấy từ một kho ngoại quan ở Việt Nam, không chỉ làm cho nhà xuất khẩu mà cả nông dân nước ta đều vui mừng. Vì khoảng cách đến với người tiêu dùng được rút ngắn cũng đồng nghĩa là hạt tiêu nước ta bớt được những khâu trung gian và người sản xuất sẽ hưởng lợi. Niềm vui còn nhân lên gấp bội khi trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 10/2/2012, giá khởi điểm của loại tiêu 550 Gr/l, loại tiêu phổ biến ở các nước Đông Nam Á, được ấn định cho kỳ hạn giao tháng 3 là 6.050 USD/tấn.

Nhưng “niềm vui ngắn chẳng tày gang” khi giá tiêu kỳ hạn tại sàn NCDEX (Ấn Độ) liên tục tăng nóng, thiết lập đỉnh mới với giá cao ngất ngưởng lên đến xấp xỉ 8.700 USD/tấn thì tiêu kỳ hạn tại sàn SMX (Singapore) vẫn ì ạch quanh quẩn mức giá 6.000-6.500 USD/tấn, chênh lệch hơn 2.000 USD/tấn, là không thể chấp nhận được.

Các thương lái trong nước những ngày đầu còn theo dõi giá trên sàn Sing để mua bán, rồi sau đó phải đợi giá từ nhà thu mua xuất khẩu. Nhưng đến khi hai sàn trái chiều nhau thì sự lúng túng lộ rõ ở tất cả mọi giới tại thị trường nội địa. Giá mua bán trong ngày phải chỉnh đi chỉnh lại vì không biết nên dựa theo sàn nào. Và gần đây nhất, trong khi sàn Ấn vẫn diễn ra bình thường với khối lượng giao dịch hàng ngày vẫn duy trì khoảng 5-6 ngàn tấn thì sàn Sing không có một hợp đồng mở nào, khiến nhà kinh doanh thực sự mất phương hướng.

Nhìn vào các sàn giao dịch hạt tiêu hiện nay chợt nghĩ: Không biết các nhà quản lý nước ta nghĩ gì khi đã xây dựng sàn BEC (tại Buôn Ma Thuột) lại còn cho sàn hàng hóa Triệu Phong giao dịch cà phê, trong khi ý đồ xây dựng các sàn điều, tiêu là mặt hàng chiếm vị trí số 1 thế giới vẫn cứ bỏ ngỏ. Như vậy xuất khẩu nông sản các loại chiếm vị trí hàng đầu thực sự đã vững chắc hay vẫn còn nhiều phụ thuộc khác nữa?

Anh Văn

Tục “bắt chồng” và chuyện “ăn trái cấm” nam nữ K’ho

Với người K’ho dưới chân núi LangBiang ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, để chính thức trở thành vợ chồng bắt buộc họ phải có với nhau một vài mặt con. Lúc này, nhà gái mới giết heo, mổ trâu tổ chức đám cưới mời phía nhà trai, anh em họ hàng, buôn làng tới ăn mừng. Từ nay đôi lứa mới chính thức thành vợ chồng.

Tình yêu của thiếu nữ K’ho (*1)

Cuộc đấu trí trong đám hỏi

Người K’ho dưới chân núi LangBiang, phụ nữ luôn là trụ cột chính trong gia đình gần như quyết định mọi vấn đề hệ trọng. Và ngay cả trong hôn nhân, họ cũng sẽ là người chủ động đi bắt chồng về nhà ăn nằm với mình.

Đến tuổi cập kê, người con gái bắt đầu làm đẹp, chỉnh trang thân hình, trang phục và đi chơi cùng nhóm bạn trong buôn. Sau một vài bận hẹn hò ở bờ này, bụi nọ, khi đã ưng bụng một người con trai nào đó, người con gái sẽ chủ động đòi cha mẹ đến nhà người mình yêu đặt vấn đề bắt chồng dù người con gái đó có thể chỉ mới ở tuổi 14, 15.

Trong lễ gặp mặt hai gia đình bắt buộc phải có bà mối, người này sẽ đứng ra làm các nghi thức, tạo thành chiếc cầu nối giữa đôi trai gái và gia đình hai bên. Thủ tục đi ăn hỏi của người K’ho rất đơn giản, chỉ một vòng đeo tay và một dây nhòng bằng đồng hoặc bạc. Lễ đi hỏi của nhà gái thường bắt đầu vào lúc 17 giờ khi mặt trời đã khuất dưới dãy núi Langbiang, lúc này tất cả những thành viên trong gia đình nhà trai ở trên rẫy đã trở về nhà, mọi công việc trong ngày của nhà trai hoàn tất. Khi đã đầy đủ những thành viên trong gia đình nhà trai có mặt, nhà gái đặt vấn đề xin bắt chàng trai về ở rể nhà mình. Cùng lúc này, bà mối đeo nhòng vào cổ chàng trai.

Thông thường phía nhà trai sẽ “làm cao” từ chối việc xin bắt chồng của phía nhà gái bằng cách trả lời là: “Con trai tôi còn trẻ, đang ăn bám bố mẹ, chưa có kinh nghiệm trong gia đình đâu. Anh chị thông cảm”.

Không như nhiều dân tộc khác khi bị từ chối cầu hôn người đi hỏi sẽ tự ái bỏ về hoặc không còn thiết tha đi cầu hôn người này cho con mình nữa. Nhưng với người K’ho, lễ cầu hôn thực chất là một cuộc đấu trí giữa gia đình hai bên mà bên nào thua lý, yếu lẽ sẽ bị thất bại. Khi nhà trai từ chối gã con, phía nhà gái sẽ tiếp tục thuyết phục: “Con anh chị hôm nay còn trẻ, không có kinh nghiệm, ngày mai nó sẽ lớn. Người ta có sức đi làm được mười ngày con anh chị cũng sẽ làm được bảy, tám ngày đó thôi”.

Nếu người con trai thật sự không bằng lòng để người con gái bắt mình về nhà họ sẽ trả lời: “Hôm nay con không lấy, ngày mai con cũng không lấy. Con đâu ở dưới nước mà sợ”, sau đó tháo nhòng vừa được nhà gái đeo vào cổ bỏ xuống bàn.

Việc từ chối cầu hôn này sẽ làm tổn thương danh dự của phía nhà gái, buộc nhà trai phải bồi thường danh dự bằng tiền hoặc sản vật trị giá từ 500.000 – 1.000.000 đồng. Nhà gái chỉ cầm vòng tay và nhòng về toàn bộ số tiền trên sẽ dành cho mai mối.

Khoảng một tuần sau, nhà gái cùng mai mối lại đến nhà trai đặt vấn đề bắt chồng cho con. Những lý lẽ thuyết phục nhất sẽ tiếp tục được hai bên đưa ra để đấu trí. Nếu nhà gái vẫn thua, nhà trai chưa chịu cho bắt chồng thì nhà trai lại phải nộp tiền bồi thường danh dự, trả lại vòng tay và nhòng về cho nhà gái.

Theo luật tục của người K’ho, đối với con trai đang trong thời gian có người con gái săn hỏi bắt về làm chồng sẽ không được để ý đến người con gái khác. Và cũng không cho phép bất cứ người con gái nào đến đặt vấn đề bắt người con trai này về làm chồng.

Ông K’Breo Cil, người chuyên nghiêm cứu về luật tục của người K’ho dưới chân núi Lang Biang cho biết, tại địa phương có những đám hỏi kéo dài đến hai, ba tháng mà vẫn chưa thành công. Không thể bắt được chồng người con gái buộc phải đi tìm người con trai khác, riêng gia đình nhà trai tuy không bị mất con những cùng thiệt hại nặng nề về tiền bạc và thời gian.

“Ăn trái cấm” không chịu làm chồng thì…

Ăn trái cấm (*2)

Với người K’ho ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gia đình thường không cấm đôi lứa yêu nhau. Khi đã ưng cái bụng của nhau, nếu thích hai người có thể được tự do chung sống như vợ chồng mặc dù phía nhà gái chưa chính thức đi hỏi.

Thông thường những đôi lứa “ăn cơm trước kẻng”, đã chung sống với nhau như vợ chồng việc hoàn tất các thủ tục để tiến tới hôn nhân không mấy khó khăn và phần lớn là thành công. Tuy nhiên, không phải đôi trai gái nào “ăn trái cấm” trước khi có lời cầu hôn từ phía nhà gái cùng thành vợ chồng.

Khi hai người đã ở với nhau như vợ chồng, nhà gái vẫn sẽ lựa chọn ngày lành tháng tốt sắm vòng tay và nhòng đến nhà trai hỏi xin bắt chồng về cho con.

Người phụ nữ K’ho chỉ cưới chồng khi đã có con

Trong trường hợp này, nếu chàng trai vẫn chưa chịu về nhà vợ làm chồng bà mai mối sẽ hỏi người con gái: “Chúng mày yêu nhau sao giờ nó không chịu nhận làm chồng mày”. Người con gái sẽ trả lời: “Dạ chúng con yêu nhau như vợ chồng”. Mai mối tiếp tục dồn phía nhà trai vào thế yếu lý, thiếu lẽ: “Chúng mày yêu nhau da đã chạm da, thịt đã chạm thịt rồi phải không”.

Chỉ chờ cho có câu hỏi này của người mai mối, người con gái sẽ kể lại toàn bộ việc làm chuyện “vợ chồng” từ khi nào cho gia đình hai bên nghe nhằm mục đích buộc chàng trai phải có trách nhiệm làm chồng của mình.

Thế nhưng, cũng có những chàng trai K’ho vốn “cứng đầu” không chịu nhận trách nhiệm làm chồng mặc dù trước đó đã ăn nằm với người con gái từ lâu. Những người con trai “dám làm không dám chịu” này thường bị nhà gái phạt vạ rất nặng. Vật nộp phạt có thể là một con trâu mộng hoặc tiền tương đương với con trâu (ngày nay khoảng 20 triệu đồng).

Nếu gia đình nhà trai nộp phạt thỏa đáng nhà gái mới cảm thấy danh dự không bị xúc phạm. Nếu nộp phạt ít, nhà gái có thể tự ái bỏ về mà không cần bất cứ vật phẩm phạt vạ nào từ phía nhà trai. Những người con trai này sẽ bị nhà gái xem là đĩ đực, coi thường và khinh rẻ vô cùng. Đối với tộc người K’ho ở chân núi Lang Biang, ai bị xem là đĩ đực và bị coi thường thì rất khó có người xin bắt về làm chồng.

Khi nhà gái đã xin bắt được chồng, ngay trong đêm đó, người con trai có thể theo về nhà gái chung sống. Tuy nhiên, để chính thức trở thành vợ chồng và tổ chức đám cưới buộc họ phải có với nhau một vài mặt con. Nếu không có con thì dứt khoát không thể tổ chức đám cưới.

Không dễ thu phí xuất khẩu cà phê

Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam vừa xây dựng đề án thành lập Quỹ bảo hiểm cà phê để trình Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc thu phí trong thời điểm này sẽ khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và tạo sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Xem tất cả bài trong chuyên đề: Sẽ thu phí xuất khẩu 2USD/tấn cà phê từ tháng 10/2012

Theo đề xuất mới, từ tháng 10-2012, doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Cà phê – Cacao Việt Nam (Vicofa) sẽ bị thu phí 2 đô la Mỹ trên mỗi tấn cà phê xuất khẩu.

Kim nghạch xuất khẩu cà phê
Vicofa đề xuất sẽ thu phí 2USD trên mỗi tấn cà phê xuất khẩu

Tại buổi họp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) bàn cách tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng diễn ra hồi đầu tháng 2, ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Vicofa, đề nghị nhà nước có cơ chế cho phép Vicofa thu 2 đô la Mỹ trên mỗi tấn cà phê xuất khẩu từ các doanh nghiệp thành viên. Nếu được thì mỗi năm quỹ này cũng thu được ít nhất 1 triệu đô la Mỹ.

Ông Tự cho hay, nếu không thu phí để đầu tư lại cho cây cà phê thì 10 năm nữa Việt Nam sẽ tụt xuống vị trí thứ 4, thứ 5 về sản xuất và xuất khẩu cà phê. Hơn nữa, nếu không thu phí để tái đầu tư cho cây cà phê thì doanh nghiệp sẽ không có cà phê để xuất khẩu.

Do đó, quỹ này sẽ dành khoảng 50 – 70% để hỗ trợ các doanh nghiệp và nông dân tái canh cà phê già cỗi, 30% hỗ trợ lãi vay tạm trữ cà phê, còn lại dùng để xúc tiến thương mại.

Đề xuất này dù được nhiều người ủng hộ nhưng cũng vấp phải không ít phản đối từ các chuyên gia và doanh nghiệp trong ngành.

Ông Đoàn Triệu Nhạn, một chuyên gia lâu năm trong ngành cà phê cho hay, các nước xuất khẩu cà phê lớn như Brazil, Columbia…đã thành lập quỹ bảo hiểm ngành cà phê từ rất lâu rồi. Vicofa cũng đưa ra kiến nghị này từ năm 2002 nhưng do thời điểm đó giá cà phê xuống thấp quá nên lùi lại tới giờ này mới đề xuất lên Chính phủ. Tuy nhiên, hiện cũng chưa phải thời điểm thích hợp để thu phí, khi giá cà phê trên thế giới đang lao dốc mà áp dụng quy định này sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp.

Ông Nhạn cho biết, một mâu thuẫn trong đề xuất này là nếu chỉ thu các doanh nghiệp trong hiệp hội thì sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp trong hội sẽ không chịu nộp phí và xin ra khỏi hội.

Hơn nữa, cả nước hiện có trên 140 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê trong đó có 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, 12 doanh nghiệp FDI này hiện lại chiếm tới hơn 50% tổng khối lượng xuất khẩu. Nếu không thu phí cả những đối tượng này, sẽ gây ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, đẩy các doanh nghiệp trong nước ngày càng khó khăn hơn.

“Nếu đã thu phí xuất khẩu thì tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trên đất Việt Nam này đều phải đóng hết chứ không chỉ những doanh nghiệp trong nước”, ông Nhạn nhấn mạnh.

Ở khía cạnh khác, ông Nguyễn Anh Phong, Giám đốc Trung tâm Chính sách Chiến lược Nông nghiệp Nông thôn miền Nam, tỏ ra quan ngại về tính khả thi của đề án. Theo ông Phong, quỹ bảo hiểm này dù mới đang trong quá trình dự thảo, nhưng đã gặp phải sự phản ứng tiêu cực từ phía doanh nghiệp, khi trong đề án có nói phí này để phục vụ cho nông dân tái canh cây cà phê nhưng lại không đề cập đến việc xác định nông dân nào tái canh, nông dân nhận tiền như thế nào và tái canh theo hình thức nào. Trong đề án có nhiều điểm không khả thi và sẽ khó có thể được phê duyệt thu phí từ tháng 10 tới.

Đứng trên góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn An- Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Thái Hòa cho hay, ông đồng tình với việc thu phí xuất khẩu cà phê. “Trước đây các doanh nghiệp hay ỷ lại vào cơ chế xin cho, tức khi giá cao thì doanh nghiệp lơ đi nhưng khi giá xuống lại xin nhà nước trợ giá, hỗ trợ lãi suất. Đây là ngành hàng có giá trị lớn, về tổng quan là có lợi nhuận nên hiệp hội đề xuất xây dựng quỹ này là đúng”, ông An nói.

Tuy nhiên, theo ông An, nói là thu từ xuất khẩu nhưng thực chất là gián thu của người nông dân. Chính vì vậy, tất cả các tờ khai xuất khẩu của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, đều phải thu và chi trực tiếp cho người nông dân thông qua hình thức tạm trữ cà phê hoặc tái canh cà phê bằng cách cấp miễn phí giống cà phê cho nông dân.

Còn theo ông Phạm Khánh Hiệp, chuyên gia cà phê cho hay, đứng trên góc độ danh nghiệp thì khi thu 2 đô la Mỹ/tấn cà phê xuất khẩu sẽ ảnh hướng lớn tới lợi nhuận của các doanh nghiệp trong bối cảnh khó khăn hiện nay.

Theo số liệu ông trích dẫn từ Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, trong chuỗi giá trị kinh doanh cà phê thì các nhà chế biến, xuất khẩu có tỷ suất lãi/chi phí thấp nhất 0,37%. Trong khi đó, các nhà rang, xay sản phẩm phổ thông và rang, xay sản phẩm cao cấp chiểm tỷ lệ rất cao, lần lượt đạt 32,62% và 45,86%. Nông dân trồng, thu hoạch, sơ chế có tỷ lệ lợi nhận ở mức 13,68%.

Với tỷ suất lợi nhuận thấp (0,37%), có thể thấy doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn và hiện có tới 80% doanh nghiệp kinh doanh trong ngành cà phê đang thua lỗ. “Nếu các doanh nghiệp đang lỗ như vậy thì việc thu phí sẽ như một cổ hai, ba tròng”, ông Hiệp nhận xét.

Ngược lại với quan điểm của ông An, ông Hiệp cho hay, cần phải sử dụng đồng tiền này như thế nào để cải thiện cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam.

Nếu quỹ này tạo ra những điều có ích cho doanh nghiệp, như mướn các chuyên gia hoặc công ty tư vấn, sử dụng quỹ này mua thông tin thị trường của các chuyên gia phân tích có uy tín, đưa ra định hướng thị trường hàng tháng, hàng năm cho doanh nghiệp thì khi đó các doanh nghiệp sẽ thấy được lợi ích từ việc đóng phí.

Ngược lại, khi doanh nghiệp làm ăn có lời thì sẽ mua của nông dân với giá tốt hơn. Còn giờ các doanh nghiệp đang lỗ thì lấy cơ sở nào để mua tốt hơn? Đây là một tác động gián tiếp đến các hộ nông dân của quỹ bảo hiểm nếu dùng theo hình thức này.

Mới mẻ với “Bảo tàng đá” ở Lâm Đồng

Tại thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, bảo tàng đá đầu tiên của Việt Nam vừa được công nhận và mở cửa đón du khách. Bảo tàng ra đời không chỉ góp thêm một sản phẩm du lịch độc đáo, mà còn là nơi tập trung của rất nhiều loại đá quý – một tài nguyên quý giá thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Tây nguyên.

Bảo Tàng đá ở Lâm Đồng

Trong khuôn viên bảo tàng đá được đặt tên rất hoa mỹ – Hoa Tài Ngọc Châu – này là hơn 3.000 hiện vật đá từ mọi miền đất nước được chủ nhân sưu tầm trong 40 năm qua. Trong đó, chiếm phần lớn là các loại đá được tìm thấy tại các khu vực rừng tỉnh Lâm Đồng.

Ngoài Lâm Đồng, hầu hết các loại đá quý tại Việt Nam như Ruby, Saphir, Spinel, Thạch anh, Turmalin, Zircon, Peridot, Granat, Gỗ hoá đá hay Opal – Canxedon cũng đều có thể tìm thấy ở các tỉnh Tây Nguyên. Vì vậy, để một lượng lớn đá quý được tập trung về đây là kết quả của hàng chục năm khổ công của chủ nhân và gia đình. Nếu như sưu tầm cổ vật đòi hỏi công sức, thời gian và sự kiên trì của người chơi, thì sưu tầm đá còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác khi mà những hiện vật này đều nằm tại các vùng rừng núi, sông suối hiểm trở…

Mới mẻ bảo tàng đá

Theo gia chủ, có rất nhiều yếu tố cần thiết để có thể nhìn ra như thế nào là một hiện vật đá có giá trị nhưng cái khó trong thưởng lãm các hiện vật đá là đòi hỏi trí tưởng tượng của người xem, bởi mỗi tác phẩm đem đến những cảm nhận khác nhau tùy vào mỗi người. Tuy nhiên, cũng chính yếu tố ấy lại tạo nên sức hấp dẫn cho loại hình du lịch mới mẻ này. Bởi đơn giản, với bảo tàng đá, du khách có thể thả trí tưởng tượng theo ý thích của mình…

Ngoài các ý nghĩa về dáng, thế…, sự đa dạng về các chủng loại đá quý tại bảo tàng đã đem lại cơ hội hiếm có cho người xem tiếp xúc với cùng một lúc rất nhiều hiện vật đá quý giá.

Tham quan bảo tàng đá Lâm Đồng

Hiện trên cả nước đã có nhiều bảo tàng tư nhân được thành lập, so với các bảo tàng nhà nước thì bảo tàng tư nhân vẫn gặp không ít khó khăn. Việc phát triển các bảo tàng tư nhân chỉ mới là bước khởi đầu nhưng trong thời điểm các sản phẩm du lịch còn hạn chế, có thể xem bảo tàng như điểm nhấn văn hóa hay một sản phẩm du lịch có tiềm năng thu hút du khách, góp phần lưu giữ được những giá trị văn hóa – lịch sử của dân tộc.

Sẽ thu phí xuất khẩu 2USD/tấn cà phê từ tháng 10/2012

Việc thu phí xuất khẩu cà phê (dự kiến bắt đầu thực hiện từ 1.10.2012) không chỉ bị các doanh nghiệp phản đối mà trong quan điểm của lãnh đạo Hiệp hội Cà phê VN (VICOFA) cũng đang có những ý kiến khác nhau.

Bản tin thị trường cà phê ngày 9/3/2012

Giá cà phê thế giới đồng loạt tăng trong ngày 8/3, trong đó tăng ấn tượng hơn tại thị trường London.

 Giá cà phê robusta trên thị trường London vừa trải qua hai phiên tăng ấn tượng, tới hơn 130 USD/tấn và chạm mức cao 6 tháng ở 2.088 USD/tấn. Nguyên nhân là do hoạt động mua vào ồ ạt của nhà rang xay khi nguồn cung hàng thật đang thắt chặt bởi nông dân tại nước cung cấp duy nhất của thị trường hiện tại là Việt Nam không chịu xuất hàng do giá chưa thỏa đáng.

Đóng cửa phiên 8/3, giá cà phê giao tháng 5 chạm 2.088 USD/tấn, tăng 57 USD so với phiên liền trước. Các kỳ hạn xa hơn tăng 40 – 45 USD và duy trì quanh mức 2.041 – 2.044 USD/tấn. Tình trạng vắt giá duy trì đến nay đã đúng 1 tháng.

 Ngoài yếu tố Việt Nam, giá cà phê robusta tăng phiên qua còn bởi niềm tin vào Hy Lạp khi nước này tiến sát tới thành công của thỏa thuận hoán đổi nợ – yếu tố có tính chất quyết định để Hy Lạp nhận được gói cứu trợ thứ 2 từ quốc tế và ngăn chặn khả năng sụp đổ của nền kinh tế mong manh. Giá còn được hỗ trợ bởi tuyên bố duy trì lãi suất 1% của Ngân hàng Trung ương châu Âu để kích thích kinh tế khu vực. Yếu tố kỹ thuật cũng góp phần không nhỏ vào đợt tăng này.

Trên thị trường New York, giá cà phê arabica phiên qua chấm dứt chuỗi giảm nhưng chỉ tăng nhẹ, với kỳ hạn tháng 5 tăng 0,05 cent lên 188,65 USD/tấn. Thị trường này đang chịu áp lực nguồn cung mạnh từ Braxin, bất chấp các hỗ trợ khác từ kinh tế vĩ mô.

Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) hôm qua phát đi 1 báo cáo lý giải nguyên nhân của việc giá cà phê arabica thấp nhất trong 16 tháng. Theo đó, “thị trường dư hàng thật là yếu tố chính làm giá giảm, chứ không phải đầu cơ”.

ICO đồng thời nhận định, tình hình hiện tại sẽ không kéo dài vì nhu cầu mặt hàng này dự báo sẽ tăng cực mạnh trong năm nay nhờ sự hồi phục của kinh tế toàn cầu. Năm ngoái, cả thế giới đã tiêu thụ gần 136 triệu bao, vượt cung tới 3 triệu bao.

Ở trong nước, giá cà phê nhân xô hôm nay 9/3 được các công ty  phát giá 40,5 – 40,6 triệu đồng/tấn, tăng 800 nghìn đồng so với hôm qua. Đây cũng là mức giá mà bà con trông chờ để tính chuyện xuất hàng ra phần nào.

Nguyễn Hằng (giacaphe.com)

Doanh nghiệp ngoại lũng đoạn ngành cà phê: Cần giám sát chặt

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, các doanh nghiệp cà phê trong nước thay vì “kêu khóc” trước sự lấn át của các doanh nghiệp ngoại, cần tự mình chủ động đầu tư, mở rộng kinh doanh để cạnh tranh…

Xem thêm: Doanh nghiệp ngoại lũng đoạn cà phê Việt

Nên ra điều kiện với doanh nghiệp ngoại

Bà Phan Thị Thanh Minh- Phó Vụ trưởng Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết: “Theo luật, các DN FDI được quyền đầu tư kinh doanh, xuất khẩu cà phê. Tuy nhiên, nếu các cơ chế chính sách hiện hành bị các DN FDI “lách” chỗ nào, thì chúng ta cần phải chấn chỉnh chỗ ấy để tránh tình trạng các DN FDI cạnh tranh không lành mạnh. Tôi cho rằng, các DN VN nên tìm cách đầu tư, kinh doanh tốt hơn để cạnh tranh với DN FDI trong mua bán xuất khẩu cà phê”.

Thua mua cà phê

Đồng thời, Bộ Công Thương đã kiến nghị các bộ, ngành liên quan, cùng các địa phương cần tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của các DN nước ngoài trong việc mua, bán nguyên liệu trong nước, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Trong khi đó, TS Phạm Tất Thắng – chuyên gia kinh tế Viện Nghiên cứu Thương mại cho rằng: “Việc DN nước ngoài được kinh doanh nông sản, trong đó có cà phê ở trong nước đã được cảnh báo từ rất lâu, kể từ khi VN mới gia nhập WTO, đó là chúng ta sẽ phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngay trên sân nhà.

Chính vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị đối phó với tình hình này như thế nào. DN nước ngoài được phép mua trực tiếp cà phê của dân nhưng mua với số lượng bao nhiêu, họ được đặt bao nhiêu điểm thu mua… là quyền của chúng ta”. Theo ông Thắng, có thể đặt điều kiện khi cho phép DN nước ngoài khi họ được mua trực tiếp nông sản của ta, đồng thời các địa phương cũng nên có quy định và thực hiện kiểm tra, giám sát việc này.

“Cần tự do cạnh tranh”

Đó là khẳng định của ông Vũ Quốc Tuấn – Trưởng phòng Truyền thông đối ngoại Công ty TNHH Nestlé Việt Nam về loạt bài mà Báo NTNN đã phản ánh. Ông Tuấn cho biết: “Thực tế, hiện Nestlé có nhà máy chế biến cà phê rang xay lớn nhất ở Việt Nam và Nestlé có quyền thu mua cà phê của dân để có nguyên liệu chế biến cho nhà máy, thế nhưng cho đến nay chúng tôi chưa hề mua trực tiếp một hạt cà phê nào của dân”.

[trichdan]Trung bình mỗi năm, Nestlé thu mua khoảng 250.000 tấn cà phê tại Việt Nam (chiếm 25% sản lượng) để phục vụ cho nhà máy rang xay của công ty.[/trichdan]Theo ông Tuấn, phương thức thu mua của Nestlé hiện nay là mua qua đại lý trung gian, có nghĩa là các đại lý nhỏ đi thu mua cà phê trong dân, sau đó họ bán cho đại lý cấp 1 và Nestlé chỉ mua qua đại lý cấp 1, các đại lý này cũng đều là các doanh nghiệp trong nước.

Về ý kiến, các công ty nước ngoài vào thu mua trực tiếp nguyên liệu có thể gây ảnh hưởng lâu dài đến ngành cà phê Việt Nam, ông Tuấn nói: “Ở đây, có thể vì lý do nào khác, nên họ mới đưa vấn đề này lên thành một nguy cơ. Còn riêng về quan điểm của Nestlé là ủng hộ tự do cạnh tranh, điều này vừa thích hợp với các quy định của WTO, vừa đảm bảo tự do thị trường. Chứ còn chúng ta cứ quản lý theo kiểu bảo hộ các DN trong nước bằng biện pháp hành chính, thì không có hiệu quả”.