Thấp thỏm trước vụ cà phê mới…

Năm ngoái, vào thời điểm này cà phê ở Đăk Mil (Đăk Nông) đã bắt đầu chín rộ. Nhưng tới giữa tháng 9 năm nay, hầu hết các vườn cà phê ở đây vẫn đang xanh trái. Người trồng cà phê vẫn đang phấp phỏng…

Coffee Tuy chưa đến kỳ thu hoạch, nhưng nhiều nông dân ở các xã Đăk Lao, Đăk Sắc…đã tin chắc vào khả năng được mùa cà phê vụ 2008/2009. Dẫn chúng tôi ra thăm vườn cà phê rất đẹp và rất nhiều trái, ông Võ Tá Lý- nông ân ở thôn Tân Bình (xã Đăk Sắc) nói “Các chú xem, cà phê năm nay trái dầy lắm.

Trái dầy nên quả hơi nhỏ, nhưng chắc chắn năng suất sẽ cao. Vườn cà phê này của tôi, chắc cũng phải được 4 tấn/ha”. So với năng suất trung bình của cả huyện Đăk Mil trong vụ cà phê 2007/2008 là 2,2 tấn/ha thì năng suất vườn cà phê của ông Lý trong vụ cà phê này, đúng là khá ấn tượng. Và ở Đăk Sắc nói riêng, cũng như Đăk Mil nói chung, có khá nhiều hộ nông dân đang kỳ vọng sẽ đạt được năng suất cao xấp xỉ như vườn của ông Lý.

Ông Nguyễn Bá Lộc, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đăk Lao cho biết, vụ này do bị mưa đồng loạt trên diện rộng nên cà phê ở đây ra hoa muộn, do đó phải một tháng rưỡi đến hai tháng nữa mới vào mùa thu hoạch rộ. Ông Lộc khẳng định, với những nông dân trồng cà phê vào loại khá ở Đăk Mil thì năng suất cứ phải từ 3 tấn/ha trở lên. Bản thân gia đình ông Lộc cũng có tới 7 ha cà phê, năng suất năm nay dự tính sẽ đạt khoảng 4-4,5 tấn/ha.

Ở huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), nhiều nông dân cũng đang tin tưởng vào một vụ cà phê cho năng suất và sản lượng khác. Trái với bên Đăk Nông, tại Lâm Hà dù cũng phải một tháng rưỡi đến hai tháng nữa cà phê mới thu hoạch rộ, nhưng lác đác đã có những vườn cà phê đang được thu hái. Ông Toàn Vũ, một nông dân ở thị trấn Nam Ban cho biết “So với vụ trước, vụ cà phê năm nay ở đây sẽ có năng suất khả quan hơn vì trái dày, ít rụng. Nhà tôi trồng 2 ha, ước năng suất cũng tới khoảng 5 tấn/ha”.

Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui về khả năng được mùa, không ít hộ dân trồng cà phê ở Đăk Nông, Lâm Đồng, cũng đang phấp phỏng trong lòng những nỗi lo. Cái lo trước nhất là chi phí sản xuất đã tăng khá cao. Theo tính toán của ông Nguyễn Bá Lộc, năm nay trên mỗi ha cà phê, nông dân huyện Đăk Mil phải đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu cùng các chi phí khác, tổng cộng vào khoảng 80-90 triệu đồng. Trong khi đó, giá cà phê hiện nay ở Tây Nguyên vào khoảng 35-36 ngàn đ/kg thì với chi phí như trên những hộ nào chỉ đạt năng suất từ 2,5 tấn/ha trở xuống, coi như chỉ hoà và lỗ.

Và 35-36 ngàn đ/kg là giá lúc cao nhất chứ nghe nói mấy hôm nay giá cà phê bên Đăklăk chỉ còn 30.000đ/kg. Nên nhớ rằng hiện nay lượng cà phê còn trong dân còn rất ít và vụ mới chưa thực sự bắt đầu. Đến khi cả Tây Nguyên cùng vào mùa thu hoạch, chẳng biết giá cà phê khi ấy còn giữ được như hiện nay không hay sẽ giảm mạnh xuống. Kinh nghiệm của nhiều nhà nông ở Tây Nguyên cho thấy, cứ năm nào được mùa cà phê là giá lại giảm. Còn như vụ 2007/2008 vừa rồi, do mùa vụ không được tốt, nên giá cà phê mới lên cao như thế.

Về Tây Nguyên dự lễ hội cà phê

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ hai sẽ được Đắk Lắk tổ chức cuối năm nay, từ ngày 10 đến 14-12-2008. Từ thương hiệu vùng thủ phủ cà phê nổi tiếng, Đắk Lắk hy vọng lễ hội sẽ quảng bá tốt hình ảnh du lịch tỉnh và mời gọi đầu tư vào cà phê cao nguyên.

Lễ hội cà phêNhiều hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao và triển lãm, hội chợ về cà phê với sự tham gia của 150 doanh nghiệp và gần 400 gian hàng hứa hẹn mang lại cho lễ hội một không gian rất riêng, thấm đẫm hương vị cà phê và gió Tây Nguyên. Các hoạt động của lễ hội năm nay sẽ chủ yếu xoay quanh cây cà phê, sản phẩm cà phê, tôn vinh những người trồng và chế biến cà phê.

Đặc biệt, sau hai lần quảng bá sản phẩm cà phê Tây Nguyên tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, mùa đông này, cà phê được trở về với không gian nguyên thủy của nó. Khách đến với lễ hội sẽ thưởng thức cà phê ngay tại khu phố được thiết kế theo kiến trúc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Một hội thi nhà nông đua tài cũng được tổ chức tại lễ hội nhằm tạo sân chơi giao lưu cho những người trồng cà phê của 14 huyện trong tỉnh tham gia, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm canh tác, phát triển cà phê theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái.

Nông dân sẽ lên sàn bán cà phê

Sàn giao dịch cà phê đầu tiên trong cả nước của tỉnh Đăk Lăk sẽ chính thức khai trương vào ngày 12/12/2008, trong thời gian diễn ra Lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột lần 2”- Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk, ông Lữ Ngọc Cư cho biết.

Sàn giao dịch cà phê BMTTheo ông Cư, đây là Sàn giao dịch nông sản thí điểm đầu tiên của Việt Nam có quy mô lớn, giúp cho doanh nghiệp (DN) và người trồng cà phê tiếp cận với phương thức mua bán cà phê tiên tiến, phù hợp với xu hướng kinh doanh hiện nay trên thương trường quốc tế.

Ông Nguyễn Tuấn Hà – Giám đốc Sàn giao dịch cà phê Daklak cho biết, sàn giao dịch bao gồm hai sàn, một dành cho các doanh nghiệp (DN) đặt lệnh mua và dự kiến sẽ có khoảng 100 DN kinh doanh cà phê tham gia; một dành cho nông dân đặt lệnh bán.

Ngoài ra, còn có một kho với sức chứa 30.000 tấn cà phê nhân dành cho nông dân ký gửi sản phẩm trước khi giao dịch trên sàn. Ông Hà cũng cho biết, cà phê sẽ được các cơ quan chuyên môn kiểm định chất lượng trước khi nhập kho. Sau khi ký gửi, chủ hàng (nông dân) sẽ được cấp  chứng thư, có giá trị như một điều kiện cần khi tham gia giao dịch trên sàn.

Chủ hàng cũng có thể sử dụng chứng thư để giao dịch vay vốn ngân hàng. “Sàn giao dịch cà phê sẽ đem lại những lợi ích cho cả người nông dân lẫn các DN nhờ tính minh bạch và công khai của nó”- Ông Hà nói.

Ông Đỗ Hà Nam- Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam cho biết kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2008 ước đạt 2 tỷ USD và năm nay cũng là năm cà phê xuất khẩu có giá bình quân cao nhất từ trước đến nay.

Tuy nhiên, tình trạng “sụt sùi” về giá cả vẫn luôn là vấn đề lo ngại nhất của nông dân. Có thời điểm, giá cà phê rơi xuống “đáy” và ở mức 300 USD/tấn, bằng nửa giá thành. Ông Nam cho rằng, người trồng cà phê hiện vẫn chưa thoát khỏi phong trào: đổ xô trồng khi được giá và thi nhau chặt bỏ khi cà phê mất giá.

Trong thực tế người nông dân đã từng phải trả giá rất đắt cho phong trào này. Khi giá cà phê xuống đến 300 USD/tấn, người nông dân đồng loạt chặt cà phê để trồng cây khác, nhưng sau đó giá cà phê phục hồi thì lại không còn cà phê để bán.

Trong khi đó, vì nhiều lý do khác nhau nên biện pháp mua trữ cà phê của các DN không đem lại hiệu quả đáng kể và không đủ sức giúp cho nông dân giữ cây cà phê.

Vì vậy, theo ông Nam, bình ổn giá cà phê là mục tiêu quan trọng đang được đặt ra và cách tốt nhất hiện nay để bình ổn giá là khống chế diện tích trồng cà phê cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm.

Theo đó, tổng diện tích trồng cà phê của các địa phương khống chế ở mức 500.000 ha, tương đương sản lượng 1 triệu tấn cà phê nhân/năm. Trong đó, riêng tại Đăk Lăk- địa phương được xem là thủ phủ của cây cà phê hiện có diện tích hơn 178.000ha, sản lượng mỗi năm bình quân đạt trên 400.000 tấn cà phê nhân. Mỗi năm tỉnh này đem về trên 500 triệu USD từ hoạt động xuất khẩu cà phê.

Lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột lần 2 diễn ra từ ngày 10-14/12/2008, với sự tham gia của 150 DN trong và ngoài nước trưng bày các sản phẩm cà phê và sản phẩm phụ trợ cho cây cà phê cũng như các sản phẩm được chế biến từ hương liệu cà phê. Lễ hội còn có sự tham gia của các đoàn khách quốc tế và 27 nhà nhập khẩu cà phê đến từ nhiều nước trên thế giới.

Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai vào Italy

Ông Đoàn Đình Thiêm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty cà phê Việt Nam (VINACAFE) cho biết Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai vào thị trường Italy, chỉ đứng sau Brazil.

Cafe VietnamTại Hội thảo về triển vọng hợp tác trong công nghiệp cà phê giữa Việt Nam và Italy diễn ra tại thủ đô Rome của Italy ngày 26/9, ông Thiêm cho biết xuất khẩu cà phê là một trong những thế mạnh của Việt Nam sang thị trường Italy.

Thống kê trong 8 vụ cà phê gần nhất, trung bình mỗi năm, Italy nhập khẩu của Việt Nam 66.000 tấn cà phê, có năm lên đến 90.000 tấn, đưa nước này trở thành bạn hàng cà phê lớn thứ 4 của Việt Nam (chiếm 8,13% thị trường xuất khẩu), chỉ đứng sau Đức, Mỹ và Tây Ban Nha.

Các tập đoàn sản xuất và chế biến cà phê lớn nhất của Italy như Lavazza hay Pecorani cũng đã đặt văn phòng đại diện và mở các liên doanh ở Việt Nam.

Ông Thiêm,nhấn mạnh Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới và hiện là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cho phép Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ đối tác trong lĩnh vực này.

Theo ông Vincenzo Sandalj, Chủ tịch Hiệp hội cà phê thành phố Trieste, thị phần của Việt Nam trong các nước xuất khẩu cà phê vào Italy đang tăng nhanh trong những năm qua do chất lượng cà phê của Việt Nam đáp ứng được khẩu vị của người tiêu dùng Italy.

Hiện Italy là nước nhập khẩu cà phê lớn thứ 5 trên thế giới, với mức tăng trưởng trung bình của thị trường lên tới 6% mỗi năm, là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam tích cực khai thác thị trường này.

Đắk Lắk được mùa cà phê

Thời gian vừa qua chúng tôi nhận “nghe” được một số tin đồn thất thiệt về việc dự báo sản lượng cà phê của Việt Nam mùa vụ 2008-2009, theo đó dự báo sản lượng năm nay sẽ giảm hơn so với năm trước. Đây chỉ là những tin đồn và mục đích cũng như cơ sở của những tin đồn thất thiệt trên hiện chúng tôi chưa xác định rõ, và chúng tôi cũng chưa đưa ra một nhận định nào cho sản lượng vụ mùa tới.
Dưới đây là bài viết “Daklak được mùa cà phê” đăng trên TTXVN. Mời bà con cùng xem.

Theo đánh giá của UBND tỉnh Đắk Lắk, niên vụ cà phê năm 2008-2009 có khả năng đạt sản lượng trên 400.000 tấn cà phê nhân, tăng 50.000 tấn so với niên vụ cà phê năm ngoái. Các huyện vùng trọng điểm cà phê của tỉnh như Krông Pách, Krông Búk, Krông Năng, Ea H’Leo, Cư M’Gar qua kiểm tra đánh giá đều được mùa hơn niên vụ cà phê năm ngoái.

Hiện nay, các nông hộ, các doanh nghiệp trồng cà phê đang tập trung chăm sóc cuối vụ cho 178.000ha cà phê kinh doanh cho thu hoạch, nhất là thực hiện các biện pháp chống rụng quả, sâu đục thân cho cà phê. Đặc biệt, để góp phần nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu, tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các địa phương, các doanh nghiệp chỉ thu hái cà phê khi trên cây có quả chín từ 90% trở lên, hạn chế thấp nhất tình trạng thu hái quả cà phê xanh như những năm trước đây.

Các địa phương đang tăng cường tuần tra, bảo vệ các vườn cà phê, chống trộm cắp. Đối với các vườn cà phê xa khu dân cư, các doanh nghiệp, các nông hộ còn hợp đồng với các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn cùng tham gia bảo vệ hoặc từng gia đình phân công lao động trẻ, khoẻ ngày đêm túc trực canh phòng bảo vệ các vườn cà phê. Các doanh nghiệp, các nông hộ trồng cà phê cũng đã chuẩn bị các phương tiện như bạt ni lông, nhà kho, sân phơi, các phương tiện chế biến, lao động… nhằm phục vụ tốt việc thu hoạch cà phê.

Đắk Lắk kiến nghị với Chính phủ, các Bộ ngành chức năng tăng cường thêm nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh nhằm phục vụ tốt cho công tác thu mua cà phê xuất khẩu niên vụ 2008-2009 này.

(TTXVN)

Giới thiệu cà phê Việt Nam tại Anh

Hội thảo “Cà phê Việt Nam – Thị trường đầy triển vọng” đã diễn ra ngày 22/9 tại London, nhằm giới thiệu với các doanh nghiệp Anh về cà phê Việt Nam và tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước xây dựng quan hệ đối tác kinh doanh.

Cà phê việt namChủ tịch Hiệp hội cà phê Việt Nam (Vicofa) Lương Văn Tự đã giới thiệu về những thế mạnh của ngành công nghiệp cà phê Việt Nam và các giải pháp mà các doanh nghiệp này đang chú trọng triển khai nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.

Theo ông Tự, rất nhiều doanh nghiệp cà phê Việt Nam đang nỗ lực sản xuất cà phê hữu cơ. Ông Gary Milsted, phụ trách Trung tâm thu mua Croydon tại Anh, một trong 6 trung tâm thu mua trên toàn thế giới của hãng Nestle, cho biết Croydon đánh giá cao và mong muốn được xây dựng quan hệ kinh doanh với các đối tác Việt Nam.

Theo ông Milsted, Croydon sẽ phối hợp với Vicofa và các doanh nghiệp cà phê Việt Nam thúc đẩy các sáng kiến nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cà phê Việt Nam và đảm bảo nguồn cung cấp sản phẩm của Việt Nam được ổn định.

Tham tán thương mại Việt Nam tại Anh An Thế Dũng cho biết Anh là một trong 10 nước nhập khẩu cà phê Việt Nam nhiều nhất.

Hội thảo do Vicofa và Cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại Anh phối hợp tổ chức.
———-
Theo TTXVN

Nghị quyết về phát triển cà phê bền vững trong thời kỳ mới.

Đây là toàn văn của “Nghị quyết về phát triển cà phê bền vững trong thời kỳ mới” của Tỉnh Ủy Đaklak. Y5cafe xin được đăng tải lên đây để bà con tham khảo.

Đaklak: Nghị quyết về phát triển cà phê bền vững trong thời kỳ mới.

Đắc Lắk có 311 ngàn ha đất đỏ bazan, điều kiện sinh thái khá thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, nhất là cà phê, cao su, ca cao,… Cà phê là loại cây công nghiệp phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh ta, sau ngày giải phóng ( 1975) toàn tỉnh chỉ có 3.700 ha, đến nay có 178.196 ha. Cà phê là một trong những loại cây cho sản phẩm xuất khẩu lớn của tỉnh.. Các sản phẩm cà phê đã đưa Đắk Lắk trở thành tỉnh có vị thế cao về ngành sản xuất này trong cả nước. Đồng thời, nó cũng có liên quan chặt chẽ trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội, môi trường sinh thái và vấn đề phát triển bền vững.

Tuy đã đạt được những kết quả rất quan trọng, nhưng ngành cà phê ĐắkLắk đang đứng trước những thách thức to lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự tăng nhanh không theo quy hoạch về diện tích dẫn đến rừng bị tàn phá, đất bị thoái hoá; năng suất, sản lượng tăng nhưng chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp, hiệu quả kinh doanh mang lại còn ở mức thấp. Mặc khác, môi trường sinh thái trong vùng trồng cà phê và chế biến cà phê ngày càng bị ô nhiễm và mất tính ổn định, bền vững, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống nhân dân.

Để phát triển cà phê bền vững trong thời kỳ mới, sản xuất cà phê đúng theo vùng qui hoạch sản xuất nguyên liệu, tạo ra sản phẩm hàng hoá ổn định về năng suất, sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái ngày càng ổn định và bền vững, đất không bị xói mòn, rửa trôi mà ngay càng màu mỡ, cây cà phê sinh trưởng và phát triển tốt. Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết về phát triển cà phê bền vững đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 như sau:

I- TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÀ PHÊ TRONG THỜI GIAN QUA

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước đang phát triển và chiếm tỷ lệ khá lớn trong cán cân thương mại thế giới. Tuy nhiên, thu nhập và lợi nhuận lại tập trung ở một số nhà đầu cơ, chế biến và tiêu thụ trên thế giới. Phần lớn các nước trồng cà phê là những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển.
Ở Việt Nam, cà phê được trồng từ năm 1857, sau năm 1930 có khoảng 5.900 ha, năm 1975 có khoảng 20.000 ha. Sau năm 1986, thời điểm đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, cây cà phê phát triển mạnh, nhất là cà phê vối (Robusta) ở Tây Nguyên, đến nay cả nước có khoảng 500.000 ha, sản lượng khoảng trên 850.000 tấn, giá trị xuất khẩu trên 1,8 tỷ USD.

Đối với Đắk Lắk, cây cà phê là loại cây công nghiệp phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh ta từ sau ngày thống nhất đất nước, năm 1975 có trên 3.700 ha cà phê, năm 1985 có 15 ngàn ha trong thời gian này Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết số 02 về ” củng cố và phát triển ngành cà phê của tỉnh, đưa cà phê trong tỉnh định hình vào năm 1990 với diện tích 50.000 ha đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao”, năm 1990 diện tích cà phê đã tăng lên 76 ngàn ha, đến nay, toàn tỉnh có 178.196 ha (trong đó có 172.047 ha cà phê kinh doanh) với sản lượng bình quân hằng năm đạt 430 ngàn tấn cà phê nhân xô; cà phê qua chế biến rang xay trên 15 ngàn tấn và trên 1.000 tấn cà phê hoà tan.

Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như: chọn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán…. đã làm năng suất và sản lượng cà phê tăng mạnh. Những năm trước 1990, năng suất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh chỉ đạt 8-9 tạ nhân, đến năm 1994 năng suất bình quân đạt 18,5 tạ/ha, hiện nay bình quân đạt 25-28 tạ/ha; cá biệt ở một số vùng sản xuất đã cho năng suất bình quân đạt 35-40 tạ/ha, vườn cà phê một số hộ gia đình đạt trên 50 tạ/ha.

Sự phát triển quá nhanh cà phê ở Đắk Lắk về diện tích, năng suất, sản lượng đã đem lại lợi ích to lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và người trồng cà phê, song cũng đặt ra những vấn đề bức xúc cần giải quyết đó là:

Trong giai đoạn năm 1994 – 1999 do lợi nhuận từ trồng cà phê tăng cao, nên diện tích cà phê phát triển một cách ồ ạt, dẫn tới quy hoạch sử dụng đất bị phá vỡ; một số diện tích cây trồng khác bị thu hẹp và không phát triển; đặc biệt là diện tích rừng, kể cả rừng phòng hộ cũng bị giảm đi nhanh chóng do tình trạng người dân lấn chiếm rừng và đất rừng để khai phá trồng cà phê. Rừng bị chặt phá gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, mất cân bằng về đất đai, nguồn nước, vốn rừng và đặc biệt ô nhiễm môi trường trong khu vực sản xuất, chế biến cà phê diễn ra khá phổ biến.

Phần lớn diện tích cà phê do nông dân tự chọn giống để trồng, thời gian gần đây đã bộc lộ nhiều nhược điểm, có xu hướng bị thoái hoá. Trong khi đó, các hoạt động khoa học – công nghệ và công tác khuyến nông chưa đáp ứng kịp yêu cầu của thực tiễn sản xuất.

Hệ thống quan hệ sản xuất và công tác quản lý còn bất cập, mô hình liên kết “bốn Nhà” Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà nông – Nhà doanh nghiệp chưa rõ ràng, khả năng liên kết kém, ít linh hoạt trong nhiều khâu, nhiều công đoạn; nhiều doanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ mất khả năng thanh toán, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh cà phê chưa thật sự ổn định, chưa nắm bắt kịp giá cả thị trường thế giới.

Chất lượng sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột vốn là tốt do có điều kiện sinh thái phù hợp mang lại, có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thì ngày nay có phần giảm sút do các doanh nghiệp và các hộ gia đình sản xuất cà phê chưa chú trọng việc chọn giống, trồng, chăm sóc, bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật, công tác quản lý bảo vệ chưa tốt, thu hoạch quả xanh chiếm tỷ lệ cao, phơi, sấy, chế biến, bao bì, bảo quản, chưa đảm bảo theo qui trình kỹ thuật dẫn đến chất lượng cà phê nhân giảm, chưa đáp ứng với yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.

Trong đó, nguyên nhân quan trọng là nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân về phát triển cà phê theo hướng bền vững, hiệu quả và gắn với bảo vệ môi trường sinh thái chưa cao. Sự hợp tác liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong ngành chưa được chặt chẽ; chưa quan tâm tổ chức, xây dựng cơ chế kinh doanh làm suy giảm sức cạnh tranh trên thương trường trong qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các cấp uỷ, chính quyền chưa đề ra được phương hướng và những biện pháp cụ thể để chỉ đạo các doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất cà phê theo định hướng, còn để cho thị trường tự điều tiết và người sản xuất phát triển cây cà phê một cách tự phát. Mặt khác, nước ta chưa có kinh nhiều về lĩnh vưc kinh doanh cà phê trên thị trường quốc tế.

II- PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP

1- Bối cảnh và thách thức
Sau 10 năm Việt Nam gia nhập AFTA và một năm gia nhập WTO cho thấy sản phẩm cà phê của Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng chịu sự tác động sâu sắc của hai mặt tích cực và hạn chế theo quy luật cung – cầu và giá trị; đồng thời, bị tác động lớn bởi một số tổ chức kinh tế thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất chế biến và kinh doanh mặt hàng cà phê.

Giá cà phê trên thị trường liên tục biến động không theo chu kỳ, thời tiết bất lợi, giá vật tư, xăng, dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng cao. Mặt khác, giá cà phê thường bị chi phối mạnh bởi các nhà đầu cơ trục lợi, làm cho nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ cà phê của tỉnh vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.

2- Quan điểm chỉ đạo và định hướng đến năm 2020

Căn cứ vào chiến lược phát triển cà phê bền vững của ngành cà phê Việt Nam và khả năng thực tế ở địa phương, quan điểm phát triển cà phê bền vững của tỉnh hiện nay là “phải đảm bảo năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo phương hướng ổn định lâu dài; giải quyết hài hoà lợi ích về kinh tế – xã hội, gắn với bảo vệ môi trường và giữ vững trật tự an toàn xã hội”.

Phát triển cà phê bền vững được thể hiện trong các lĩnh vực như sau: Diện tích sản xuất phù hợp, năng suất cao, chất lượng tốt được người tiêu dùng ưa chuộng, có uy tín trong kinh doanh,thị trường ngày càng mở rộng, thu lợi nhuận cao; góp phần phát triển thành thị, nông thôn, môi trường xã hội lành mạnh, văn minh, giảm nghèo đói, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần, sức khoẻ, làm giàu chính đáng và đảm bảo an ninh nông thôn…; quan hệ sản xuất phải được tổ chức với các hình thức phù hợp, tính cộng đồng và tương trợ ngày càng cao, xác định rõ trách nhiệm và lợi ích của “bốn Nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà nông – Nhà doanh nghiệp; sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đất, nước và bảo vệ môi trường sinh thái ngày càng tốt hơn. Phát triển ngành cà phê bền vững phải nằm trong mối tương quan chung với các ngành và lĩnh vực kinh tế – nền văn hoá – xã hội của tỉnh, của khu vực, của cả nước cũng như trên thế giới.

Định hướng: Sản xuất cà phê phải theo tiêu chí của thương hiệu ” Cà phê Buôn Ma Thuột”, ổn định về năng suất, sản lượng, chất lượng; phát triển cà phê phải gắn chặt với phát triển kinh tế văn hoá – xã hội, du lịch, bảo vệ môi trường.

Qui hoạch và giảm diện tích cà phê của tỉnh đến năm 2015 ổn định khoảng 140.000 ha đến 150.000 ha trong vùng sinh thái thuận lợi, để thâm canh tăng năng suất bình quân một ha đạt 30 tạ trở lên, đưa sản lượng đạt 400.000 tấn trở lên, cải tạo, trồng mới số diện tích cà phê đã hết chu kỳ kinh doanh nằm trong vùng qui hoạch; kiên quyết chuyển đổi thay thế cây trồng khác đối với những khu vực trồng cà phê không đủ nước tưới, có độ dốc trên 150 , sản xuất kém hiệu quả; phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ cà phê tinh chế đạt 15 – 20% sản lượng, đưa giá cà phê xuất khẩu cùng loại tương đương với các nứoc trên thế giới; duy trì tăng trưởng GDP của ngành cà phê từ 5-6% mỗi năm.

3- Các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

- Về nâng cao nhận thức: Phát triển cà phê bền vững là gắn chặt các lợi ích về kinh tế – xã hội và môi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới có ý nghĩa quyết định đối với ngành cà phê nói riêng và nền kinh tế của tỉnh nói chung. Do đó, cần tiếp tục tuyên truyền, vận động các hộ gia đình, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cà phê đảm bảo đúng qui trình, đúng tiêu chuẩn chất lượng để nâng cao giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập. Phát triển cà phê phải đảm bảo bền vững về môi trường sinh thái, không vì lợi ích trước mắt mà sau đó phải tốn kém nhiều công sức, tiền của để khắc phục hậu quả xấu về môi trường sinh thái.

- Về qui hoạch: Rà soát lại vùng quy hoạch sản xuất chuyên canh cà phê theo 3 cấp: tỉnh, huyện và xã. Công tác quy hoạch phải có căn cứ khoa học, có tầm nhìn xa, chú trọng việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên: đất, nước và môi trường sinh thái ổn định bền vững; đồng thời, qui hoạch đầu tư nhà máy, thiết bị chế biến và hệ thống bảo quản sản phẩm…; các khu dịch vụ, du lịch, khu văn hoá….UBND tỉnh chỉ đạo các ngành liên quan qui hoạch tổng thể vùng sản xuất cà phê chuyên canh, trên cơ sở đó UBND các huyện quy hoạch chi tiết để quản lý điều hành.

- Về thâm canh vườn cây: Tuyên truyền, phổ biến và có biện pháp áp dụng các qui trình sản xuất theo tiêu chuẩn cà phê bền vững đến với người dân; trong đó, lấy công tác khuyến nông, khuyến công, xây dựng mô hình, để từ đó nhân ra diện rộng. Thực hiện cải tạo vườn cây, tuyển chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái, cho năng xuất cao, chất lượng tốt; chú trọng việc tạo giống vô tính để hạn chế thoái hoá giống. Hình thành những trung tâm giống và dịch vụ kỹ thuật cao để cung cấp đầy đủ giống tốt và dịch vụ kỹ thuật đáp ứng yêu cầu cho người trồng cà phê.

Khuyến khích người dân sản xuất, kinh doanh cà phê đảm bảo tính bền vững. Kiên quyết xử lý đối với người sản xuất, kinh doanh cà phê vi phạm Luật bảo vệ môi trường; đối với những đơn vị, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trồng cây che bóng để bảo vệ đất, chống bạc màu, xói lở… Việc sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất cà phê phải tiết kiệm và có hiệu quả.

Khuyến khích người dân sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm trong vườn cà phê bằng cách trồng xen các loại cây lâu năm để tăng thêm thu nhập; các loại cây có tác dụng che bóng, đồng thời cho sản phẩm có giá trị kinh tế, không ảnh hưởng đến năng suất cà phê, cải thiện môi trường và giảm được áp lực nước tưới về mùa khô; giảm thiểu những rủi ro do biến động của thời tiết, sâu bệnh, giá cả và nâng cao thu nhập cho người nông dân. Một số cây trồng xen có thể là cây quế, sầu riêng…

- Về thu hái: Khuyến khích người làm cà phê thu hái quả chín 90% trở lên, giảm thiểu quả xanh, có cơ chế chính sách tài chính về giá cả phù hợp đối với việc thu mua cà phê qủa chín, chất lượng tốt để kịp thời động viên người sản xuất thực hiện đúng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.

- Về chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm: Các phương pháp chế biến ướt, chế biến khô và nửa ướt nửa khô đều có thể sử dụng, nhưng tuỳ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị và người trồng cà phê mà vận dụng cho hiệu quả để giảm giá thành. Nghiên cứu khắc phục các yếu kém về trình độ công nghệ thiết bị chế biến và mức độ ô nhiễm môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến cần được coi là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm. Có chính sách thu hút đầu tư xây dựng một số nhà máy chế biến cà phê nhân, cà phê tinh chế; chế tạo thiết bị tiên tiến chế biến cà phề để cung ứng máy móc, thiết bị chuyên dùng cần thiết đáp ứng yêu cầu cho ngành cà phê. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sân phơi, kho chứa sản phẩm đối với những nơi trồng cà phê tập trung đảm bảo việc bảo quản cà phê đạt chất lượng cao.

Củng cố, mở rộng thị trường, bạn hàng, nâng cao giá trị mua – bán với đối tác lâu dài, đồng thời có chiến lược cụ thể tiếp cận thị trường mới như Trung Quốc, Nga, Nhật bản …Có chính sách đầu tư thoả đáng để tổ chức quản lý, phát triển, thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột cũng như Trung tâm giao dịch mua bán cà phê Buôn Ma Thuột hoạt động hiệu quả.

- Áp dụng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Tăng cường công tác tuyên truyền về tiêu chuẩn chất lượng và lợi ích của việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cà phê để người sản xuất tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng. Đồng thời, tăng cường quản lý Nhà nước về quản lý chất lượng sản phẩm; bên cạnh việc áp dụng tiêu chuẩn cà phê trong nước, các doanh nghiệp xuất khẩu phải có chiến lược rõ ràng trong việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng thế giới, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

- Đầu tư kết cấu hạ tầng: Phát triển nông thôn theo hướng bền vững hài hoà giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Phải huy động, lồng ghép nhiều nguồn vốn để hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hôị – môi trường trong nông thôn, xây dựng nông thôn văn minh, sạch đẹp, trong đó ưu tiên đầu tư thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sạch,… Trong thời gian đến kêu gọi các thành phần kinh tế bằng các hình thức thích hợp để huy động mọi nguồn vốn xây dựng các nhà bảo tàng cà phê với những nội dung, hình thức, quy mô phong phú, đa dạng, hấp dẫn trên địa bàn Buôn Ma Thuột.

- Cơ chế chính sách: Xây dựng các chính sách về vốn, tài chính, thuế, đất đai, kỹ thuật, tiếp thị, đào tạo nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị tiên tiến, hiện đại; khuyến khích xây dựng nhà máy chế biến cà phê tinh chế, cà phê hoà tan, các sản phẩm sau cà phê, ưu tiên cho các doanh nghiệp đã có thương hiệu cà phê. Xây dựng các kho ngoại quan tại tỉnh để doanh nghiệp trong tỉnh thuận lợi trong xuất khẩu:

- Nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước: Tổ chức rà soát các văn bản Quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến ngành cà phê, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các văn bản không phù hợp, ban hành các văn bản mới phù hợp với xu thế phát triển cà phê bền vững. Nghiên cứu thành lập các tổ chức chỉ đạo điều hành phát triển cà phê bền vững như: Hiệp hội, tư vấn khoa học kỹ thuật, dịch vụ thông tin thị trường, quảng bá thương hiệu… Tổ chức sản xuất kinh doanh cà phê trong tỉnh thành một ngành kinh tế mũi nhọn với một tổ chức quản lý- kinh doanh thích hợp, đáp ứng các mối quan hệ và các mối liên hệ của một ngành sản xuất- kinh tế và kỹ thuật, gắn việc xây dựng và phát triển kinh tế trên địa bàn huyện, thành phố, đảm bảo điều hoà được các lợi ích của nhà nước và nhân dân, của Trung ương và địa phương, của ngành và lãnh thổ…Tổ chức tuyên truyền và nâng cao nhận thức trong nhân dân, trong các tổ chức và cá nhân có ý thức bảo vệ, giữ gìn vườn cây cà phê, tăng cường phối hợp các lực lượng có liên quan để làm tốt nhiệm vụ bảo vệ các sản phẩm cà phê, nhất là trong thời điểm thu hoạch để bảo đảm chất lượng vườn cây và sản phẩm cà phê.

III/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm tổ chức quán triệt, phổ biến Nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, thành viên Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời xây dựng chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện nghị quyết có hiệu quả.

Giao Ban cán sự Đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh báo cáo và đề nghị Chính phủ xây dựng cơ chế đặc thù cho cây cà phê như một số cây trồng khác để địa phương áp dụng thực hiện có hiệu quả. Đồng thời xây dựng đề án trình HĐND tỉnh thông qua làm cơ sở để triển khai Nghị quyết này đạt hiệu quả.

Giao cho các Ban xây dựng Đảng Tỉnh uỷ và Văn phòng Tỉnh uỷ theo chức năng nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Nghị quyết này, hàng năm báo cáo Tỉnh uỷ biết, chỉ đạo./.

Buôn Ma Thuột, ngày 05 tháng 5 năm 2008
T/M TỈNH UỶ
BÍ THƯ

(Đã ký)

Niê Thuật

Đắk Lắk: Sản xuất cà phê theo thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột”

Đến năm 2015, Đắk Lắk quy hoạch giảm diện tích cà phê xuống còn từ 140.000- 150.000 ha trong vùng sinh thái thuận lợi, thực hiện đồng bộ các biện pháp thâm canh để đạt sản lượng 400.000 tấn cà phê nhân trở lên.

Sản xuất cà phê phải theo tiêu chí thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” là định hướng về phát triển cà phê bền vững của tỉnh Đắk Lắk. Đắk Lắk chỉ đạo, từ nay trở đi phải ổn định về năng suất, sản lượng, chất lượng, phát triển cà phê phải gắn chặt với phát triển kinh tế- xã hội, du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái.

Đến năm 2015, Đắk Lắk quy hoạch giảm diện tích cà phê xuống còn từ 140.000- 150.000 ha trong vùng sinh thái thuận lợi, thực hiện đồng bộ các biện pháp thâm canh để đạt sản lượng 400.000 tấn cà phê nhân trở lên.

Tỉnh kiên quyết chuyển sang các loại cây trồng khác đối với những khu vực trồng cà phê không chủ động được nguồn nước tưới, có độ dốc trên 15 độ, sản xuất kém hiệu quả. Đắk Lắk phấn đấu đến năm 2015, đưa tỷ lệ cà phê chế biến tăng lên từ 15-20% trong tổng sản lượng, duy trì mức tăng trưởng GDP của ngành cà phê từ 5- 6%/ năm.

Tỉnh khuyến khích nông dân các dân tộc sản xuất kinh doanh cà phê tăng cường đầu tư, thâm canh đồng bộ nhằm phát triển cà phê bền vững, đến mùa thu hoạch chỉ thu hái khi trên cây có từ 90% quả cà phê chín trở lên; khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hộ đồng bào các dân tộc đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, nhất là công nghệ chế biến ướt, đầu tư kết cấu hạ tầng, có cơ chế chính sách linh hoạt, đồng thời, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với việc phát triển cà phê bền vững.

Giá cà phê nhân tăng cao đã thúc đẩy nhiều hộ đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh đầu tư phát triển diện tích cà phê không theo quy hoạch, kế hoạch, thậm chí một số vùng không chủ động được nước, đất gò đồi, người dân vẫn đưa vào trồng cà phê. Hàng ngàn ha cà phê trước đây trồng không hiệu quả chặt bỏ chuyển sang trồng các loại cây ngắn ngày, nhưng sau đó, đồng bào lại chuyển sang lại trồng cà phê.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, tổng diện tích cà phê của tỉnh là 178.900 ha, tăng trên 18.900 ha so với năm 2005, trong đó có 173.800 ha đã cho thu hoạch, năng suất chỉ đạt từ 19 – 20 tạ cà phê nhân/ ha. Các cơ quan chức năng còn cho biết, nếu không có chính sách phát triển cà phê bền vững , theo tiêu chí thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột’, việc giảm diện tích, tăng năng suất, chất lượng cà phê khó thực hiện.

Xuất khẩu cà phê: Vẫn chưa theo kịp “chuẩn” quốc tế

(VEN) – Gần hai năm gia nhập WTO, xuất khẩu một số mặt hàng nông sản đã có khả năng phát triển và duy trì tốt đà tăng trưởng. Tuy nhiên, chất lượng một số mặt hàng, trong đó có mặt hàng được coi là mũi nhọn như cà phê… vẫn bộc lộ nhiều khiếm khuyết.

Cơ hội lớn cho cà phê Việt Nam

Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – ca cao Việt Nam (Vicofa) cho rằng, gia nhập WTO đang mang lại cho Việt Nam một “sân chơi” khổng lồ, trong đó có ngành cà phê. Bởi theo ông Tự, nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới tới đây mỗi năm sẽ tăng khoảng 2 triệu bao.

Dự kiến đến năm 2018, thế giới cần tới 140 triệu bao cà phê. Việt Nam là nước có sản lượng cà phê hàng đầu thế giới, đây có thể coi là cơ hội “vàng”.

Số liệu thống kê cho thấy, năm 2006 Việt Nam xuất khẩu cà phê đạt 0,97 tỷ USD, năm 2007 đã tăng lên hơn 1,64 tỷ USD. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt trên 1 tỷ USD.

Các chuyên gia thị trường nhận định, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2008 đạt mốc 2 tỷ USD là trong tầm tay. Hiện cà phê Việt Nam đang xuất khẩu sang khoảng 70 nước trên thế giới. Ngành cà phê Việt Nam hoàn toàn có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới với những thuận lợi sẵn có của ngành cũng như cơ hội thị trường thế giới mang lại.
Vẫn chưa theo kịp “chuẩn” quốc tế

Bên cạnh cơ hội phát triển và tăng trưởng xuất khẩu, hội nhập cũng đang tạo ra rất nhiều sức ép với cà phê Việt Nam, nhất là việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế và việc xây dựng thương hiệu.

Việt Nam có sản phẩm cà phê nổi tiếng như Arabica ở Sơn La, cà phê Buôn Mê Thuột… Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có thương hiệu riêng trên thương trường quốc tế nên khả năng cạnh tranh vẫn bị lép vế.

Theo các chuyên gia, cần nhanh chóng tìm cách xác lập thương hiệu cà phê Việt Nam trên thương trường thế giới nhằm hạn chế sự tác động ảnh hưởng của những nước không trồng cà phê nhưng lại chi phối sản lượng và thị trường thế giới, nhất là ở khu vực châu Âu  và Mỹ.

Bên cạnh việc chưa có thương hiệu, điểm yếu lớn khác của cà phê Việt Nam chính là chất lượng do công nghệ thu hoạch và bảo quản còn lạc hậu, đầu tư chế biến để tăng giá trị chưa nhiều.

Công nghệ các nhà máy chế biến cà phê của Việt Nam đã được đầu tư còn yếu so với yêu cầu về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm để xuất khẩu thì năng lực chế biến ở khâu sơ chế chỉ đạt khoảng 20%, khâu tinh chế đạt 40%, công nghệ sấy chất lượng cao mới chỉ đạt 20%.

Mặc dù Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu về sản lượng cà phê trên thế giới, thế nhưng doanh số và giá trị gia tăng các DN Việt Nam thu được là không nhiều bởi cà phê Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô.

Đảm bảo chất lượng là tiêu chí sống còn để tăng trưởng xuất khẩu. Ông Đoàn Triệu Nhạn, Phó Chủ tịch Vicofa cho biết, trong tổng khối lượng cà phê không đạt tiêu chuẩn của Uỷ ban điều hành Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) do thị trường cà phê London (LIFFE) phân loại năm 2007 thì cà phê Việt Nam chiếm tới 66%.

Theo đánh giá của ICO, sự chậm trễ áp dụng tiêu chuẩn chất lượng mới của Việt Nam đã làm tăng lượng cà phê bị loại theo phân loại của LIFFE. Ông Nhạn khẳng định, đánh giá của ICO là chính xác. Bởi trong quan hệ mua – bán cà phê, Việt Nam vẫn đang áp dụng bộ tiêu chuẩn cũ TCVN 4193:93.

Đánh giá chung về triển vọng cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới, các chuyên gia cho rằng, cơ hội là rất lớn, song nếu Việt Nam tiếp tục xuất khẩu cà phê như hiện nay thì khó có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững và sẽ tiếp tục làm mất đi cơ hội gia tăng lợi nhuận cho mình, làm mất đi lợi thế của một nước trong tốp đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê./.

Báo Tuổi Trẻ: Đất rừng theo… giá cà phê!

Cây cà phê việt nam, cà phê trung nguyên
Rừng bị tàn phá lấy đất trồng cà phê.
Ảnh chụp tại: Tân Thanh-Lâm Hà

(Theo Tuổi Trẻ) Giá cà phê hiện đang ở mức cao nhất trong nhiều năm qua đã giúp nhiều hộ dân ở Lâm Đồng thoát nghèo. Nhưng cũng chính từ sự hấp dẫn của giá cà phê mà tỉnh này phải đối mặt với nạn chặt phá, lấn chiếm đất rừng trái phép, giá đất rừng tăng chóng mặt.

Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn Lâm Đồng đã khuyến cáo người dân tập trung đầu tư thâm canh, cải tạo diện tích cà phê hiện hữu (120.000ha) để nâng cao năng suất và chất lượng, không mở rộng thêm diện tích cà phê. Thế nhưng người dân vẫn đổ xô trồng cà phê bằng mọi giá.

Tăng giá đột biến!
Theo TS Phạm S – phó giám đốc Sở NN & PTNT Lâm Đồng, việc trồng cà phê ồ ạt, không theo quy hoạch sẽ dẫn đến những hệ quả như: phá đất lâm nghiệp, tính thích nghi không cao (thiếu nước tưới) khiến sự sinh trưởng, phát triển cây cà phê không tốt nên hiệu quả thấp.Chị Nguyễn Thị Thu Hà ở xã Mê Linh, huyện Lâm Hà có gần 2ha dâu tằm, nhưng vừa qua gia đình chị đã quyết định chặt bỏ hơn 1ha để chuyển sang trồng cà phê. “Trồng dâu nuôi tằm vừa khó nhọc vừa bấp bênh do giá cả nên lâu nay cũng chỉ đắp đổi qua ngày. Nay giá cà phê tăng cao, gia đình tôi quyết định chuyển sang trồng cà phê” – chị Hà bộc bạch. Tương tự, ông Lieng Hjang Ha Chin (60 tuổi, ở xã Đạ Sar, Lạc Dương) cho biết: “Tôi đã trồng 1ha cà phê từ bốn năm qua nhưng thấy bà con mình ở Di Linh trồng cà phê xây được nhà, mua ôtô nên tôi phải lấy thêm rừng để trồng cà phê như họ”.

Theo báo cáo của UBND huyện Lâm Hà, có khoảng 1.010ha dâu tằm và trên 163ha chè bị người dân chặt bỏ để trồng cà phê trong năm 2007. Ở xã Đạ Sar hiện có rất nhiều hộ dân muốn chuyển trên 130ha cây hồng – vốn là cây đặc sản ở đây – để trồng cà phê.

Do có nhiều người đổ xô trồng cà phê nên từ đầu tháng bảy đến nay giá đất trồng cà phê ở nhiều nơi trong tỉnh đã tăng vọt lên gấp 2-5 lần so với trước. Cụ thể, 1ha cà phê (chưa có sổ đỏ) mới trồng được khoảng hai năm ở các xã Mê Linh, Tân Thanh, Phúc Thọ, huyện Lâm Hà và các xã Tà Hine, Đà Loan, Ninh Loan, Tà Năng… thuộc huyện Đức Trọng đang được sang tay với giá 500-600 triệu đồng, tăng ba lần so trước đây.

Riêng đất rừng mới khai phá chưa trồng cây được rao bán với giá 100 triệu đồng/ha, tăng gấp năm lần so với hai tuần trước đây. đất rừng mới lấn chiếm ở xã Đạ Sar được “hét” đến 150 triệu đồng/ha vì đất ở vị trí mặt tiền đường 723 (đường nối Đà Lạt – Nha Trang). Đối với diện tích đất đã được cấp sổ đỏ thì tùy vị trí được rao bán 700-800 triệu đồng/ha, gấp hai lần so với giá bán hồi đầu tháng 7-2008.

Theo nhiều người dân, hiện giá đất nông nghiệp tiếp tục bị đẩy lên cao do có rất nhiều người từ các địa phương khác đến đây săn lùng đất để trồng cà phê nên nhiều “cò đất” nhân cơ hội này đẩy giá lên cao

Rừng lụi tàn, cà phê vươn tới!

Nhiều nơi trong tỉnh rừng đang bị tàn phá để chuyển đổi sang trồng cây cà phê. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, trong sáu tháng đầu năm 2008 đã có 158ha rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép, chủ yếu để chuyển sang trồng cà phê. Tuy nhiên, nhiều người dân cho biết con số thực tế còn lớn hơn nhiều.

Lấn chiếm rừng để trồng cao su
Giá mủ cao su tăng liên tục đã đẩy nhiều địa phương ở tỉnh Đắc Lắc rơi vào “cơn sốt” chặt phá rừng, chặt bỏ rẫy cà phê, rẫy điều… để trồng cao su. Trong đó nổi cộm nhất là nạn phá rừng và lấn chiếm đất rừng trái phép ở các huyện Ea Súp, Ea HLeo… Cụ thể, trong sáu tháng đầu năm 2008 cả huyện Ea Súp có gần 200ha rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép, trong khi cùng thời điểm này năm trước có 2,1ha rừng bị lấn chiếm. Phần lớn diện tích rừng bị lấn chiếm trái phép được rao bán cho các đại gia trồng cao su từ các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh… với giá 50-70 triệu đồng/ha.
Ông Nguyễn Doãn Sơn, phó ban quản lý bảo vệ rừng xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, cho biết bây giờ lâm tặc không dùng dao, búa để chặt phá như trước mà dùng cưa máy nên có thể cưa đổ 1ha rừng trong vài giờ, sau đó dọn dẹp đào hố trồng cây cà phê xuống ngay nên khi đoàn kiểm tra đến thì chỉ thấy rẫy cà phê mới trồng.

Theo UBND huyện Lâm Hà, diện tích đất rừng đang ngày càng bị thu hẹp dần và thay thế bằng diện tích cà phê…. Chỉ tính từ đầu năm đến nay, diện tích trồng cà phê toàn huyện tăng thêm 1.523ha. Riêng ở xã Tân Thanh đã bị chặt phá, lấn chiếm trên 170ha rừng để trồng cà phê chỉ trong thời gian ngắn.

Tương tự, tại các xã Tà Hine, Đà Loan, Ninh Loan, Ninh Gia thuộc huyện Đức Trọng; các xã nằm ven đường mới 723 như Đạ Sar, Đạ Chais, Đa Nhim… thuộc huyện Lạc Dương, những cánh rừng thông bạt ngàn lụi tàn dần để nhường chỗ cho những vườn, rẫy cà phê mới trồng. Cá biệt một số người còn lấn chiếm cả một quả đồi để trồng cà phê rồi rao bán cho những ai có nhu cầu.

Theo ông Đỗ Văn Thủy – hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Lâm Hà, hiện nay chính quyền địa phương đang triển khai quyết liệt kế hoạch ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép. Những trường hợp sang nhượng trái phép sẽ bị thu hồi để trồng lại rừng. Hiện một số cơ quan chức năng tại Lâm Đồng khuyến cáo các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh muốn xây dựng nông trại hay đầu tư tại Lâm Đồng nên liên hệ với ngành chức năng để bảo đảm không bị lừa. Vì hiện nay có đến hàng trăm hecta đất do người dân phá rừng trái phép nhưng vẫn ngang nhiên rao bán hoặc sang tay.

Một số thông tin về thị trường cà phê Việt Nam

Theo số liệu hải quan, trong 10 ngày đầu tháng 7, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta tiếp tục được duy trì ở mức khá cao, đạt 25,7 nghìn tấn, với trị giá 58,85 triệu USD, tăng 10,3% về lượng và tăng 15,44% về trị giá so với cùng kỳ tháng 6/2008.

Cây cà phê việt nam, cà phê trung nguyên- Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Đức – một trong những thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất châu Âu.Trong năm 2007, Việt Nam đã cung cấp cho thị trường Đức 234.000 tấn, trong tổng số 1,1 triệu tấn cà phê nhập khẩu của nước này. Những năm gần đây, người Đức đã trở nên quen thuộc với hương vị đậm đà của cà phê Việt Nam nên trong tương lai Việt Nam có nhiều cơ hội gia tăng xuất khẩu tới thị trường này.

- Trong tháng 6/2008, Việt Nam đã xuất 580 tấn cà phê sang thị trường Anh, đạt trị giá 1.236.282 USD. Tính chung 6 tháng, giá trị đạt 46.203.759 USD, với lượng xuất 22.428 USD.

- Tại thị trường Marốc với nhu cầu nhập khẩu chỉ khoảng 28.000 tấn cà phê mỗi năm, Việt Nam cũng cung cấp tới gần 11.000 tấn trong năm 2007 và con số này đang tăng mạnh trong năm 2008, tiến tới chiếm một nửa số lượng cả phê nhập khẩu ở nước này (13.000 – 14.000 tấn).

- 6 tháng/2008, kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Arập Xê út đạt 1.017.064 USD, với 479 tấn.

-  Hàng năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 850.000 tấn cà phê sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó năm 2007 là hơn 1 triệu tấn, đạt kim ngạch hơn 1,6 tỷ USD. Riêng trong 6 tháng đầu năm nay, trong bối cảnh giá cà phê thế giới tăng theo chiều hướng tích cực,kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt trên 1 tỷ USD, vượt xa con số cùng kỳ năm ngoái.

- Tháng 6/2008, Việt Nam xuất khẩu 4.841 tấn cà phê sang thị trường Bỉ, với trị giá đạt 10.637.165 USD. Tính chung 6 tháng, giá trị xuất khẩu đạt 71.061.864 USD, với lượng 33.877 tấn.

Cà phê Việt Nam sẽ chi phối thị trường thế giới

Ông Nesto Osorio, Giám đốc điều hành Tổ chức cà phê Thế giới (ICO), tuy đứng sau Braxin về sản lượng cà phê nói chung nhưng Việt Nam có lợi thế chính là có sản lượng cà phê robusta (cà phê vối) lớn nhất và giá thành sản xuất thấp nhất thế giới. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới ngày càng tăng cao, ngành cà phê Việt Nam đang tự tin hướng đến ngôi vị chi phối thị trường cà phê thế giới trong những năm tới.

Trong khi đó, với những tiến bộ được áp dụng trong khâu chế biến, cà phê robusta ngày càng được các nhà chế biến trên thế giới ưa chuộng vì góp phần giảm giá thành các sản phẩm cà phê hòa tan. Vì vậy, nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng nhu cầu về cà phê robusta sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 2 – 3%/năm.

Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vicofa) Lương Văn Tự dự báo nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới trong thời gian tới sẽ tăng khoảng 2 triệu bao mỗi năm (60 kg/bao) và dự kiến đến năm 2018 thế giới cần tới 140 triệu bao. Bên cạnh đó, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mang lại cho ngành cà phê Việt Nam một sân chơi khổng lồ với hơn 5 tỷ người tiêu thụ và kim ngạch nhập khẩu trị giá 635 tỷ USD/năm.

Đây là cơ hội vàng đối với một quốc gia có trên 500.000 ha cà phê như Việt Nam. Với những thuận lợi sẵn có trên, theo đánh giá của các chuyên gia thị trường trong và ngoài nước, ngành cà phê Việt Nam hoàn toàn có cơ hội phát triển mạnh mẽ cả về giá và thị trường trong thời gian tới.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Diệp Kỉnh Tần khẳng định hoạt động sản xuất cà phê của Việt Nam đã và đang có những ảnh hưởng quan trọng đến thị trường cà phê thế giới. Vì vậy, cơ hội xuất khẩu và gia tăng xuất khẩu của cà phê Việt Nam là rất sáng sủa.

Hàng năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 850.000 tấn cà phê sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó năm 2007 là hơn 1 triệu tấn, đạt kim ngạch hơn 1,6 tỷ USD. Riêng trong 6 tháng đầu năm nay, trong bối cảnh giá cà phê thế giới tăng theo chiều hướng tích cực,kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt trên 1 tỷ USD, vượt xa con số cùng kỳ năm ngoái.

Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Đức – một trong những thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất châu Âu.Trong năm 2007, Việt Nam đã cung cấp cho thị trường Đức 234.000 tấn, trong tổng số 1,1 triệu tấn cà phê nhập khẩu của nước này. Những năm gần đây, người Đức đã trở nên quen thuộc với hương vị đậm đà của cà phê Việt Nam nên trong tương lai Việt Nam có nhiều cơ hội gia tăng xuất khẩu tới thị trường này.

Tại thị trường Marốc với nhu cầu nhập khẩu chỉ khoảng 28.000 tấn cà phê mỗi năm, Việt Nam cũng cung cấp tới gần 11.000 tấn trong năm 2007 và con số này đang tăng mạnh trong năm 2008, tiến tới chiếm một nửa số lượng cả phê nhập khẩu ở nước này (13.000 – 14.000 tấn).

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững, ngành cà phê Việt Nam cần sớm có biện pháp khắc phục tình trạng chất lượng cà phê không ổn định, công nghệ thu hoạch và bảo quản lạc hậu và đầu tư chế biến để tăng giá trị thặng dư còn thấp. Đặc biệt, theo Thứ trướng Diệp Kỉnh Tần, việc Việt Nam chưa xây dựng được những thương hiệu mạnh gắn liền với vị trí của sản phẩm trên thị trường quốc tế đã khiến ngành cà phê Việt Nam chịu không ít thiệt thòi.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao cũng nhấn mạnh rằng đã đến lúc người trồng và đơn vị chế biến kinh doanh cà phê phải thống nhất quy chuẩn, đầu tư nâng cao chất lượng cà phê từ khâu thô đến khâu tinh chế. Cùng với đó, các doanh nghiệp xuất khẩu cần có lộ trình liên kết, phát triển sàn giao dịch có kỳ hạn để chủ động về giá cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.

Chiến lược để phát triển ngành cà phê Việt Nam

Coffee ExportCách đây chưa đầy một thập niên, trên bản đồ cà phê thế giới, Việt Nam là một cái tên xa lạ.

Thế nhưng vài năm trở lại dây, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu mặt hàng này. Không những thế, với tổng kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 1,5 tỉ USD/năm, cà phê Việt Nam đã trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn.

Vì vậy để cà phê Việt Nam có thể tiến xa hơn nữa cần phải có chiến lược phát triển ngành cà phê Việt Nam…

Nâng cao chất lượng cà phê nhân:

Việc đầu tiên cần phải làm ngay là nâng cao chất lượng cà phê mà trước hết là cà phê nhân. Việc đưa các quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật vào thực tế cùng với xúc tiến thương mại, quảng bá chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuật, cà phê Việt Nam trên thế giới. Làm như vậy, Việt Nam có thể nâng giá bán cà phê lên 10-30% so với hiện nay, chúng ta không chỉ tránh được tình trạng trừ lùi so với giá chuẩn mà còn được cộng thêm.

Tiêu chuẩn thông quan cần được Nhà nước thực hiện triệt để và quyết liệt. Khoa học công nghệ được quan tâm một cách hệ thống từ chọn giống đến sau thu hoạch để người nông dân là người thực hiện hoàn hảo.

Xây dựng thương hiệu
:

Cần thực hiện hỗn hợp nhiều nỗ lực nhưng một điều cần phải làm và thay đổi cách làm, cách tiếp cận khi xây dựng thương hiệu là chúng ta phải cung cấp các giá trị, các trải nghiệm mà thế giới đang cần chứ không phải là toàn bộ những gì chúng ta có. Một số đặc tính cần phải tạo ra cho thương hiệu cà phê Việt Nam như: chất lượng tốt, thân thiện với môi trường, phối hợp văn hoá Việt Nam với văn hoá tiêu dùng thế giới, tôn vinh và cổ vũ tinh thần sáng tạo, sử dụng công nghệ và năng lượng sạch…

Cần phải tạo ra một “điểm đến”, một chiến lược thương hiệu theo vùng lãnh thổ cho cà phê Việt Nam.

Nâng cao mức tiêu dùng trong nước
:

Để đảm bảo tính ổn định cho giá cà phê trong nước nói riêng và cho ngành cà phê nói chung, phải nâng cao lượng tiêu dùng trong nước nhằm tạo hậu phương vững chắc trước những biến động lớn của thị trường xuất khẩu. Theo thống kê chưa đầy đủ, lượng cà phê tiêu thụ của người Việt Nam khoảng 0,5 kg/người/năm. Trong khi tại các nước trồng và xuất khẩu cà phê trung bình là 3 kg/người/năm. Vậy là chúng ta cần tăng lượng dùng gấp 6 lần nữa mới bằng mức trung bình các nước.

Kết nối cà phê toàn cầu:

Thành lập một cơ chế hiệp hội mạnh của các quốc gia xuất khẩu cà phê có thể so sánh đó như một OPEC của nền kinh tế tri thức. Để hình thành được liên kết này, các nước xuất khẩu cà phê liên kết với nhau như: Braxin, Việt Nam, Indonesia, Columbia… thì cần công nghệ và tài chính từ các quốc gia khác như: Nhật Bản, Israel, Singapore… cùng tham gia.

Xây dựng thương hiệu cho cà-phê Việt Nam

Để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, những nhà hoạch định chính sách cũng như người trồng cà phê vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sự phát triển của cây cà-phê nước ta là thành tựu lớn trong thế kỷ 20. Từ chỗ không được ghi vào bản đồ các nước trồng cà-phê, đến nay, diện tích cà-phê của Việt Nam đã đứng vị trí thứ hai chỉ sau Brasil về cà-phê xuất khẩu trên thị trường thế giới, và là nước duy nhất có năng suất cà-phê vối cao kỷ lục. Tuy nhiên để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sản lượng cao, thu nhập lớn nhưng giá trị xuất khẩu chưa cao

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp nước ta phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để phát triển những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Cà-phê là một trong những nông sản điển hình đó. Mặc dù gia nhập thị trường thế giới muộn hơn nhiều so với các nước sản xuất cà-phê truyền thống, nhưng Việt Nam đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở nhiều nước, trong đó có những thị trường rất khó tính như Mỹ, Ðức và các nước châu Âu khác.

xây dựng thương hiệu cà phê việt
Xây dựng thương hiệu cà phê Việt

Từ những cây cà-phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Ðến nay, cà-phê ở Việt Nam được trồng nhiều tại các tỉnh Tây Nguyên với hơn 600 nghìn ha, đạt sản lượng gần 700 nghìn tấn, thuộc vào loại năng suất cao hàng đầu trên thế giới.

Có thể nói, ngành cà-phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây. Ðó cũng là một trong những nguồn xuất khẩu chính, mang lại cơ hội công ăn việc làm và thu nhập ngày một cao cho người sản xuất kinh doanh cà-phê.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 10-2007, nước ta xuất khẩu được 41,6 nghìn tấn cà-phê với kim ngạch đạt 72,86 triệu USD, tăng 9,12% về lượng và tăng 10,5% về trị giá so với tháng 9-2007, tăng 6,55% về lượng và tăng 40,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Cùng với sự gia tăng sản lượng cà-phê xuất khẩu và dẫn đầu thế giới về sản lượng cà-phê Robusta (cà-phê vối) nhưng giá trị xuất khẩu cà-phê nước ta đem lại không cao do giá xuất khẩu còn thấp vì chất lượng thấp. Chất lượng cà-phê xuất khẩu là một thách thức về khả năng cạnh tranh của chúng ta.

Theo báo cáo của Hiệp hội Cà-phê – Ca- cao Việt Nam, trong sáu tháng tính đến tháng 3-2007, cà-phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong tổng số cà-phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Cùng một loại sản phẩm, nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khu vực từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100 USD. Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta được đánh giá theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93).

Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng “thô”. Ðây là tiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phê Robusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt trên sàn 13 đạt 90%. Và như vậy, vô hình trung chúng ta đã xuất khẩu cả một lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại. Các nhà thu mua cà-phê R2 đã tìm cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nên kim ngạch xuất khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượng tăng rất cao. Vì vậy, cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với thế giới.

Tăng cường quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu

Cà-phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển. Nhưng do khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có. Cà-phê Việt Nam đã có mặt trên toàn thế giới, nhưng dường như người tiêu dùng trên thế giới vẫn chưa biết, họ hằng ngày vẫn đang dùng cà-phê hiệu Nestle, Maxell, Folger…

Theo tiêu chuẩn Hội đồng cà-phê Quốc tế (ICO) quy định từ năm 2004 (Tiêu chuẩn ISO10470: 2004) thì hạt cà-phê xuất khẩu được lựa chọn bằng cách cân các hạt lỗi (hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ) và chất lượng được quyết định bởi số lượng hạt lỗi có trong cà-phê. Cụ thể là cà-phê Arabica không được quá 86 lỗi trong 1 mẫu 300g, cà-phê Robusta không được quá 150 lỗi trên 1 mẫu 300g. Hai loại cà-phê này phải có hàm lượng ẩm không quá 8% và 12,5%. Tuy nhiên, đây vẫn là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện nên tất yếu dẫn đến tình trạng cà-phê chúng ta vẫn áp dụng theo tiêu chuẩn cũ để xuất khẩu.

Trước tình hình chất lượng cà-phê Việt Nam bị đánh giá thấp, chất lượng xuất khẩu không ổn định dẫn đến bị ép cấp, ép giá, làm giảm giá trị xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra tiêu chuẩn mới để đánh giá chất lượng xuất khẩu cho cà-phê Việt Nam mang tên (TCVN: 4193:2005) từ năm 2005 và yêu cầu áp dụng cho các doanh nghiệp từ niên vụ cà-phê 2006 -2007 để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà-phê thế giới, đánh dấu bước đầu “chuyên nghiệp” hóa trong việc quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu ở nước ta.

Cơ sở của thương hiệu

Tại hội thảo “Triển vọng thị trường, chất lượng và cơ cấu ngành hàng cà-phê 2008″ do Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tổ chức tại Hà Nội thì trong 15 năm qua, cà-phê Robusta trên thế giới đạt tốc độ tăng trưởng nhanh gấp đôi cà-phê Arabica, lượng tiêu thụ cà-phê tăng tập trung ở những nước đang phát triển và các thị trường cà-phê mới nổi. Theo Trưởng nhóm phân tích chiến lược của ICO “Việt Nam là quốc gia được công nhận có chi phí sản xuất thấp nhất nhưng cho sản lượng cao nhất trong số các nước xuất khẩu cà-phê Robusta”.

Như vậy, cà-phê Việt Nam đang đứng trước cơ hội thuận lợi để mở rộng thị trường và nâng cao sản lượng xuất khẩu. Vì vậy, những việc cần phải làm ngay đối với những nhà kinh doanh xuất khẩu cà-phê đó là phải tuân thủ những quy định của Nghị quyết 420 của ICO về chất lượng cà-phê. Nhà nước cần có quy định bổ sung mặt hàng cà-phê nằm trong danh mục bắt buộc phải kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi thông quan.

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực thương hiệu nông sản cho rằng, cơ sở của thương hiệu là vùng nguyên liệu đồng nhất, chất lượng cao và an toàn. Thực tế, hiện nay trừ vùng nguyên liệu cà-phê Ðác Lắc là tương đối lớn còn những vùng nguyên liệu cà-phê ở Ðông Nam Bộ hay Bắc Trung Bộ còn manh mún, nhỏ lẻ và chưa thật sự xây dựng được thương hiệu của mình.

Do vậy, giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu hiện nay của ngành cà-phê là rất cần thiết. Ðây là những yếu tố làm tăng chất lượng của cà-phê Việt Nam. Trong thời kỳ hội nhập, với tư cách là thành viên của WTO, nông sản xuất khẩu nói chung và cà-phê xuất khẩu nói riêng sẽ có những thời cơ nhưng cũng nhiều thách thức trước các hạn định, nguyên tắc của tổ chức.

Vì vậy cần trang bị kiến thức, nâng cao năng lực hội nhập WTO cho cán bộ và nhân dân các vùng chuyên canh cà-phê để họ hiểu rõ vận hội, nắm bắt thời cơ, hạn chế nguy cơ, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành. Tạo điều kiện cho ngành cà-phê xuất khẩu, có những chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro trước những biến động của thị trường.

Mặt khác, tăng cường vai trò của Hiệp hội Cà-phê – Ca cao Việt Nam để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh cà-phê trong nước nhằm xây dựng thương hiệu cà-phê “made in Vietnam” uy tín trên thị trường thế giới.

Ngành cà phê, cacao, hồ tiêu, hạt điều VN sau 2 năm gia nhập WTO

Hướng đến chất lượng

Sau 2 năm Việt Nam hội nhập, mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã chiếm lĩnh vị trí thứ hai trên thị trường thế giới, còn mặt hàng hồ tiêu, hạt điều xuất khẩu đều đứng ở vị trí số 1. Đã đến lúc các nhà sản xuất ngồi lại với nhau để quyết định: Sẽ không tăng sản lượng, tập trung tăng chất lượng hàng xuất khẩu và xây dựng thương hiệu quốc gia đối với những mặt hàng này.

Đã có chỗ đứng trên thương trường

Cây cà phê Việt Nam

Theo số liệu của Hiệp hội Cà phê – Cacao VN, đến năm 2007, cà phê VN được tiêu dùng ở 74 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với sản lượng XK 850.000 tấn/năm, VN chiếm vị trí thứ hai trên thế giới về lượng cà phê XK, chỉ sau Brazil. Đến nay cà phê trở thành mặt hàng nông sản XK chủ lực, đạt kim ngạch XK trên 1 tỉ USD.

Đối với mặt hàng hạt điều XK, đến năm 2007 cả nước có trên 400.000ha trồng điều, cung cấp cho thị trường quốc tế mỗi năm 153.000 tấn sản phẩm, thu về kim ngạch trên 650 triệu USD, dự báo năm 2008, mặt hàng điều XK sẽ đạt kim ngạch 850 triệu USD.

Theo ông Nguyễn Thái Học – Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Điều VN, hiện VN được công nhận là quốc gia XK hạt điều lớn nhất thế giới. Riêng mặt hàng hồ tiêu, từ năm 2001 đến nay VN luôn luôn chiếm ngôi vị số 1 thế giới về số lượng XK với mức bình quân 70.600 tấn năm, chiếm 31,2% thị phần thế giới. Dự kiến năm 2008 VN chỉ XK khoảng 80.000 tấn, giá trị kim ngạch sẽ đạt khoảng 290 triệu USD.

Phải có “tiếng nói” trên thương trường

Tại hội thảo “Đánh giá tác động 2 năm gia nhập WTO đối với nền kinh tế VN ngành cà phê, cacao, hồ tiêu, hạt điều” gần đây, Phó Chủ tịch Hiệp hội Càphê – Cacao VN Đoàn Triệu Nhạn cho biết: Đến nay, ngành cà phê VN đã phát triển đạt đến mức ngưỡng của nó. Ngành cà phê VN nên dừng mở rộng mà đi vào thời kỳ kiện toàn theo hướng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”.

Về vấn đề này, theo ông Lương Văn Tự – Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Cacao VN – nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO của VN: “Sở dĩ những mặt hàng nông sản của VN trở nên rất yếu khi tham gia quyết định giá cả trên thương trường quốc tế” vì DN chúng ta manh mún, ra thương trường quốc tế thì giành giật khách hàng của nhau bằng cách hạ giá. Bà con nông dân chưa hợp tác với nhau để tạo ra sức mạnh hàng hoá…”. Cũng theo ông Tự, đã đến lúc các sản phẩm nông sản của VN phải tham gia vào các tổ chức hiệp hội ngành hàng quốc tế để bảo vệ quyền lợi sản phẩm quốc gia và giá trị hàng hoá nông sản XK.

Một tin vui tuy muộn, nhưng được biết, hiện một chiến lược nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm đứng đầu thế giới của VN đã được các hiệp hội ngành hàng khởi động để đưa các mặt hàng nông sản XK mang thương hiệu VN thật sự chiếm lĩnh thị trường quốc tế.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.