Thu 24 tỷ đồng/năm từ rau má

Đó là khoản thu nhập “chắc như bắp” của xã viên HTXNN 1 Nhơn Phú, TP Quy Nhơn (Bình Định). Nhờ trồng rau má, gần 4.000 nhân khẩu đã có thu nhập ổn định.

Chúng tôi về vùng rau má Nhơn Phú vào đầu tháng 3, là thời điểm nông dân ra sức chăm sóc đợi ngày thu hoạch. Ông Nguyễn Văn Bùi- Chủ nhiệm HTXNN 1 Nhơn Phú nhớ lại: “Nghề trồng rau má ở địa phương đã lâu, tuy nhiên chỉ có dăm ba héc ta trên đất màu để làm rau ăn sống chứ chưa trở thành hàng thương phẩm. Khi thấy cây rau má cho thu nhập khá cao, nông dân dần nhân rộng diện tích. Từ năm 2000 đến nay, cây rau má phát triển vùn vụt với gần 500 hộ tham gia trên diện tích canh tác ổn định hơn 60 ha”.

Chạy xe máy dạo quanh các khu vực 3,4,5 thuộc địa bàn Nhơn Phú dưới cái nắng gay gắt, nhưng màu xanh của cánh đồng rau má luôn tạo cho chúng tôi cảm giác mát mẻ. Tại tổ 4, KV3, chúng tôi ghé lại bắt chuyện với mấy phụ nữ đang ngồi dưới đám ruộng. “Gia đình tui có 5 sào rau má nên khi làm cỏ phải thuê chị em trong làng giúp cho. Nếu không làm cỏ kịp thì rau kém phát triển, đến thời hạn thu hoạch rau xấu bán được ít tiền”, chị Nguyễn Thị Bảy cho biết.

Theo người dân nơi đây thì trồng rau má không khó, quy trình chăm sóc để làm ra rau sạch đã có cán bộ BVTV thường xuyên mở lớp tập huấn hướng dẫn bà con nông dân. Khó nhất là khâu giống, bởi chẳng có đơn vị nào bán giống rau má. Do vậy nông dân phải tự trồng rồi nhân giống dần dần. Những hộ trồng mới phải nhờ vào sự chia sẻ về giống rau của những hộ trồng trước. Tính đoàn kết, hỗ trợ nhau trong SX của nông dân ở đây là yếu tố chính để hình thành nên vùng trồng rau má chuyên canh mang tên Nhơn Phú.

Theo những người trồng rau má, từ 20- 25 ngày là rau má cho thu hoạch 1 lứa. Trừ những tháng mưa dầm, mỗi năm rau má cho thu hoạch ít nhất 8 lứa. Mỗi lứa, 1 ha rau má cho thu hoạch ít nhất 10 tấn rau. “Rau má đắt nhất vào mùa nắng nóng, bởi nhu cầu dùng rau làm sinh tố rất cao. Hiện nay tại Bình Định rau má được bán với giá 8.000 đ/kg. Mà không có để bán, bởi mùa nắng đắt như tôm tươi”, chị Lê Thị Nghĩa, chủ 3 sào rau má cho biết.

Ông Nguyễn Văn Bùi tính toán: “Trên diện tích 60 ha, với năng suất bình quân 500 kg/sào/lứa, mỗi năm bà con trong HTX thu được khoảng 4.800 tấn rau má. Với cái giá bình quân là 5.000 đ/kg, mỗi năm người dân nơi đây thu được khoảng 24 tỷ đồng”.

[trichdan]“Nhờ cây rau má, gần 500 hộ nông dân trong HTX xây dựng được nhà khang trang, sắm xe máy xịn và cho con cái học hành đến nơi đến chốn. Những hộ có nhiều diện tích trồng rau má còn phất lên làm giàu”, ông Nguyễn Văn Bùi.[/trichdan]Do hiệu quả kinh tế cao nên nông dân ở HTXNN 1 Nhơn Phú đã tự chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng rau má gần hết diện tích canh tác. Anh Bùi Văn Thanh ở KV 3 đã chuyển 3 sào đất lúa sang trồng rau má đã 10 năm cho biết: “Mỗi ha đất trồng lúa cho thu hoạch 2 vụ/năm được khoảng 10 tấn. Với giá lúa hiện nay là 7.000 đ/kg, khoản thu nhập toàn năm khoảng 70 triệu đồng. Trừ chi phí hết 40 triệu, nông dân chỉ còn lãi khoảng 30 triệu đồng. Trong khi đó, 1 ha rau má cho thu nhập ít nhất 150 triệu đồng/năm. Trừ chi phí 1 nửa, người trồng chắc ăn lãi ròng 75 triệu. Do vậy, hầu hết bà con có đất ruộng ở đây đã chuyển từ làm lúa sang trồng rau má gần hết diện tích”.

Đầu ra của rau má là vô cùng, nông dân không cần mang ra chợ bán, đến kỳ thu hoạch, thương lái đến tận ruộng để thu mua. Ngoài cung ứng cho người tiêu dùng ở TP Quy Nhơn, rau má của Nhơn Phú còn có mặt khắp nơi trong tỉnh, ra đến Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và lên tận các tỉnh Tây Nguyên.

Không chỉ mang lại cuộc sống ổn định cho gần 500 hộ trồng rau má, nghề này còn góp phần giải quyết thời gian nông nhàn cho lao động nữ tại địa phương với những công việc nhổ cỏ, thu hoạch. Mỗi năm, nghề trồng rau má ở Nhơn Phú thường xuyên thu hút khoảng 1.000 lao động tham gia với mức thu nhập 60.000 đ-70.000 đ/ngày công.

Braxin tăng ngân sách dự trữ do giá cà phê giảm mạnh

Chính phủ Braxin dự tính tăng gấp đôi ngân sách cho việc dự trữ cà phê lên 1,5 tỉ Real (khoảng 840 triệu USD) nhằm giúp nhà sản xuất cà phê tăng khả năng dự trữ và bán cà phê ở thời điểm thuận lợi nhất.

Ủy ban cà phê quốc gia Braxin (CNC), nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, đã đưa ra lời khuyên người trồng cà phê trong nước không nên lo lắng sau khi giá loại nông sản này sụt giảm tới 17% trong năm nay.

Giá cà phê Arabica giao dịch trên sàn New York hôm 6/3 đóng cửa ở 1,9305 USD/ pound. Đây là lần đầu tiên thị trường cà phê đóng cửa ở mức dưới 2 USD/ pound kể từ 3/11/2010.

cà phê braxin
Ủy ban cà phê Braxin trấn an dư luận trước tình hình giá cà phê giảm mạnh

Theo ông Silas Brasileiro, chủ tịch CNC, những yếu tố cơ bản của thị trường khá tích cực tuy nhiên diễn biến thị trường gần đây không liên quan gì tới các yếu tố này. Cung cầu của thị trường vẫn bám sát nhau. Trữ lượng cà phê trên thế giới được duy trì hạn chế, trong khi nhu cầu tiêu dùng vẫn tiếp tục tăng lên. Ông cũng đồng thời lên tiếng khuyến cáo người trồng cà phê không nên lo lắng.

CNC cũng đang làm việc với chính phủ nhằm đề nghị tăng nguồn tài chính hỗ trợ cho người trồng cà phê, mục đích nhằm đảm bảo giá cà phê không bị ảnh hưởng khi việc bán sản phẩm diễn ra tập trung trong thời gian ngắn. Theo phát biểu của ông Edilson Martins de Alcantara, người đứng đầu bộ phận cà phê thuộc Bộ nông nghiệpBraxin, cho biết: “Chính phủ dự tính tăng gấp đôi ngân sách dùng cho việc dự trữ cà phê lên 1,5 tỉ Real (khoảng 840 triệu USD), đề xuất này có khả năng sẽ được phê duyệt vào tháng này”. Ông cũng chia sẻ đề án này là nhằm mục đích giúp nhà sản xuất cà phê tăng khả năng dự trữ và bán cà phê ở thời điểm thuận lợi nhất.

Theo dự báo của chính phủ Braxin thì sản lượng cà phê sẽ đạt mức cao kỷ lục vào nông vụ 2012-2013. Ngoài ra theo báo cáo của Conab, văn phòng dự báo trực thuộc chính phủ, thì sản lượng sẽ đạt từ 49 – 52,3 triệu bao, vượt mức cao là 48,5 triệu bao năm 2002.

Cây Hông(Paulownia) – loài cây có năng suất sinh khối cao

Nếu những ai mới nhìn cây hông khi cây còn non tuổi và biết được tốc độ sinh trưởng của nó thường cho rằng gỗ cây hông giống như cây đa, không có giá trị kinh tế. Nhưng kỳ thực cây Hông có nhiều ưu điểm mà các cây khác không dễ gì sánh được.

Cây hông (Paulownia) là cây gỗ lớn, có tốc độ sinh trưởng nhanh. Từ lâu, nhiều quốc gia trên thế giới có điều kiện tự nhiên thích hợp với cây hông đã chọn cây hông làm cây lâm nghiệp và chú ý phát triển. Ở Việt Nam cây hông phân bổ trong rừng tự nhiên ở một số tỉnh phía Bắc giáp với biên giới Trung Quốc. Đồng bào các tỉnh này đã từng dùng gỗ cây này làm chõ hông xôi nên có tên là cây Hông. Tuy nhiên, trước đây cây hông ít được ngành lâm nghiệp và bà con chú ý đến. Những năm gần đây khi có những công trình nghiên cứu cây hông của các nhà khoa học thì cây hông mới bắt đầu được quan tâm và trồng thử nghiệm ở một số địa phương.


Cây Hông 3 tháng tuổi

Theo TS Thái Xuân Du (Viện Sinh thái nhiệt đới), người có nhiều năm nghiên cứu cây hông cho rằng, cây hông là “vua” của loài cây lâm nghiệp. Theo ông Du thì, cây hông có nhiều ưu điểm: dễ trồng, thích nghi ở nhiều loại đất, lớn rất nhanh (sau 6-7 năm trồng, cây cao hơn 10m, đường kính 35-40cm), gỗ nhẹ, không bị mối mọt, ít bị biến dạng khi thời tiết thay đổi…

Còn theo tài liệu của Trung Quốc, cây Hông được mệnh danh là “nhà vô địch về mọc nhanh”, kết quả được công bố: Cây 5 tuổi có đường kính bình quân 19,9 cm, cao 7-8m, thể tích cây đứng 0,117 m3/cây; cây 8 tuổi D1,3=29,5 cm, H=10,35m, 11 tuổi D1,3=38,38 cm, H=12,46 m, Đường kính có thể đạt 90-100cm trong vòng 30 năm và 200 cm trong vòng 80 năm. Cây Hông sống lâu năm, cho sinh khối lớn: Cây 31 năm tuổi D1,3=100,5 cm, H=21,7 m, 75 tuổi D1,3=134,4 cm, H=44 m, cây 80 năm tuổi ở Quý Châu- Trung Quốc, đường kính 202 cm, chiều cao 49,5m, thể tích 34m3/cây.

Gỗ Hông: Có tỷ trọng nhẹ (0,26-0,27g/cm3), độ cứng tương đương gỗ nhóm 5. Không bị mối mọt và ít bị mục (tại Hồ Bắc- Trung Quốc khai quật cỗ quan tài sau 200 năm gỗ vẫn còn tốt. Trung Quốc có những ngôi nhà làm bằng gỗ này đã tồn tại hàng trăm năm). Gỗ có tỷ lệ co rút nhỏ dưới 0,45%, ít bị biến dạng và không bị cong vênh nứt nẻ, cách điện và cách nhiệt tốt. Hàm lượng xenlulô trong gỗ trung bình 48-51%.

Chính vì những ưu điểm đó, gỗ Hông được dùng trong nhiều lĩnh vực kinh tế và đời sống như làm đồ gia dụng, ván dán, ván sợi ép, trần nhà, trang trí nội thất, thùng đựng hàng, bao bì và các vật dụng khác. Gỗ Hông còn được dùng làm nhạc cụ, đóng tàu lượn, lót vỏ máy bay, toa xe, du thuyền, ván lướt và sản xuất bột giấy cao cấp (giấy in tiền).

Ngoài gỗ, lá cây có hàm lượng đạm cao và các nguyên tố vi lượng khác, được dùng làm thức ăn cho gia súc, cành rơi lá rụng có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì đất. Cây Hông mọc nhanh nên chóng phát huy tác dụng phòng hộ, lá to có nhiều lông hữu ích trong việc làm sạch bụi và khói giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hoa để nuôi ong và làm thuốc chữa bệnh, vỏ cây chế thuốc nhuộm. Than đốt từ gỗ Hông dùng làm than hoạt tính, sử dụng bột pháo hoa, bột chì màu. Gỗ Hông còn có khả năng chống cháy, nhiệt độ cháy thông thường của gỗ từ 2230C đến 2570C, điểm cháy của gỗ Hông ở nhiệt độ 4250C. Đặc điểm này đáng chú ý, có thể trồng cây Hông để làm đường băng xanh cản lửa phòng chống cháy rừng. Giá thương phẩm của gỗ tùy theo quy cách, phẩm chất và tuổi của cây gỗ. Theo báo Nông nghiệp số 201 ra ngày 26-10-2002, gỗ khai thác ở tuổi 6 có giá khoảng 120-150 USD/m3 gỗ tròn, theo thông tin Kinh doanh và tiếp thị ra ngày 14-10-2002, giá gỗ Hông trên thị trường rất cao khoảng 700-1.000 USD/m3 gỗ.

Một số mô hình đã trồng công cây Hông được sự quan tâm chú ý như mô hình trồng xen canh cây hông với cà phê huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum với diện tích khoảng 32 ha. Qua theo dõi, cây hông sinh trưởng tốt. Tại vườn cây hông của ông Nguyễn Văn Hạp (xã Đăk Mar huyện Đăk Hà) cây hông được trồng thuần trên đất bằng, diện tích 2ha với kích thước 5mx5m/cây- mật độ 400 cây/ha. Nhiều người đến đây tham quan ai nấy đều trầm trồ khen ngợi. Bình quân cây hông trong vườn này cao 7m, đường kính thân 0,27m, tỷ lệ cây sống 97%, khối lượng gỗ khoảng 133m3/ha. Vườn cây hông của ông Phạm Thanh Sơn (thôn 12, xã Đăk Hring) trồng năm 2002. Cây hông được ông Sơn trồng xen trong vườn cà phê trên đất dốc với kích thước 6mx3m/cây-mật độ 550 cây/ha. Đến nay bình quân cây cao 6m, đường kính 0,19m, tỷ lệ cây sống 95%, khối lượng khoảng 71m3 gỗ/ha.

Hay như mô hình trồng trồng thử nghiệm tại một số điểm thuộc huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. Kết quả cho thấy cây Hông có tỷ lệ sống trên 90%, khả năng sinh trưởng rất nhanh. Rừng trồng 18 tháng tuổi trên đất hơi nghèo đến trung bình ở xã Địch Quả đạt đường kính trung bình trên 5cm, cao 4-5m. Trong đó, một số cây có đường kính trên 10cm, cao 7m. Cây trồng phân tán ở Ban quản lý vườn quốc gia Xuân Sơn (đất tốt) đường kính đạt 16-20cm, cao 7-8m. Gia đình ông Thắng trồng ở hè phố thị trấn Thanh Sơn, cây 18 tháng tuổi đạt đường kính 22cm. Bạch đàn mô, keo lai là cây trồng chủ lực và sinh trưởng nhanh nhất hiện nay nhưng chưa đạt tới 16-22cm/18 tháng tuổi như cây Hông nêu trên.

Có thể nói cây hông là cây lâm nghiệp có triển vọng (vừa có giá trị kinh tế cao vừa có chức năng phòng hộ nhanh). Có thể trồng phân tán, trồng thành rừng tập trung hoặc trồng xen theo phương thức nông lâm kết hợp. Tuy nhiên, phải chọn điều kiện lập địa phù hợp và tùy mục đích sử dụng rừng mà chọn phương thức trồng mới đem lại kết quả. Vấn đề đang quan tâm là việc tìm đầu ra cho cây hông phải được quan tâm đúng mức để người dân có thể yên tâm đưa vào sản xuất và làm giàu từ cây hông.

Đăk Lăk: Sắn rớt giá nông dân gặp khó

Ea Súp là một trong những huyện có diện tích trồng sắn (mì) lớn của tỉnh. Những năm trước giá sắn lên cao, nông dân ồ ạt chặt bỏ các loại cây trồng và hoa màu để trồng sắn. Tuy nhiên, năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, giá sắn đang rớt giá liên tục khiến người dân điêu đứng.


Mua bán sắn tại xã Ia R’vê.

Sau nhiều tháng bỏ công sức, tiền bạc vào việc trồng sắn, tưởng sẽ được đền bù xứng đáng, vậy mà giờ đây ông Mai Hữu Huỳnh, thôn 4 (xã Ia R’vê) đang rất lo lắng khi giá sắn xuống thấp. Ông cho biết: “Những năm trước, gia đình tôi trồng đậu và bắp nhưng cho năng suất không cao. Đến năm 2010, tôi trồng thử nghiệm 2 ha sắn, tới vụ thu hoạch được 24 tấn, với giá tại thời điểm đó, trừ chi phí còn lãi 30 triệu đồng/ha. Thấy việc đầu tư có hiệu quả, năm 2011, gia đình tôi quyết định trồng thêm 5 ha sắn. Nhưng giá sắn đột ngột giảm mạnh khiến gia đình tôi thất thu.

Theo tính toán, trừ công chăm sóc và chi phí sản xuất chỉ còn thu được lãi 5 triệu đồng/ha. Nhưng như thế vẫn còn tốt hơn nhiều gia đình khác”. Ông Huỳnh còn cho biết thêm, việc trồng sắn chỉ là biện pháp tạm thời trước mắt, vì càng về sau công và chi phí cho việc trồng sắn là rất lớn, nếu trừ đi tất cả chi phí thì nông dân chỉ có thể thua lỗ chứ không thể lời được.

Cũng như ông Huỳnh, gia đình bà Trương Thị Oanh, thôn 4 (xã Ia R’vê) đang dở khóc dở cười khi 14 ha sắn sắp thu hoạch xong mà không có ai hỏi mua. Bà ngán ngẩm cho biết: “Năm nay giá sắn xuống quá thấp, tại nơi thu hoạch sắn chỉ được mua với giá 1.000 đồng/kg, trong khi đó chi phí đầu tư từ khâu giống, phân bón, công thuê… mỗi ha sắn tốn hết 20 triệu đồng. Với giá sắn như hiện nay, gia đình tôi vụ này thua lỗ khoảng 200 triệu đồng”.

Theo số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp-Phát triển nông thôn huyện Ea Súp, do giá sắn năm 2010 tăng đột biến nên nhiều hộ nông dân trên địa bàn đã chuyển đổi diện tích sang trồng sắn với tổng diện tích sắn toàn huyện là 1.500 ha, tập trung chủ yếu ở các xã như Ia R’vê, Ya T’Mốt, Cư Kbang… Với giá thu mua tại thời điểm đó, bình quân mỗi ha sắn cho lãi từ 25-30 triệu đồng/ha, gấp nhiều lần so với các loại nông sản khác. Vì vậy, thấy lãi lớn, nhiều người dân đã ồ ạt đổ xô trồng sắn. Diện tích trồng sắn từ 1.500 ha năm 2010 đã tăng lên 5.000 ha trong năm 2011.

Tuy nhiên, đến nay, chỉ có khoảng 70% diện tích này được thu hoạch do khâu tiêu thụ bị trì trệ kéo dài. Đây là hậu quả của việc phát triển cây sắn ồ ạt, tràn lan không hề tính tới sự thất thường và rủi ro của thị trường tiêu thụ. Hiện tại giá sắn đã giảm xuống mức 1.000-1.200 đồng/kg sắn tươi và 3.000-3.500 đồng/kg sắn khô, giảm một nửa so với giá bán năm 2010 (2.000-2.200 đồng/kg sắn tươi và 5.500-6.000 đồng/kg sắn khô). Trong khi giá sắn giảm mạnh thì giá cây giống, phân bón, chi phí thu hoạch, vận chuyển ngày càng tăng khiến người dân thua lỗ nặng.

Cà phê no ấm

Buổi trưa, một “cơn mưa vàng” từ trời cao ào xuống hào phóng khiến những hộ nông dân trồng cà phê ở xã Đinh Trang Thượng (huyện Di Linh) không giấu được niềm vui.

Anh Nguyễn Văn Duyên (thôn 6, xã Tân Lâm) có hơn 2 ha cà phê tại thôn 8 xã Đinh Trang Thượng vui ra mặt: “Trận mưa mang lại nguồn lợi cho gia đình tôi khoảng 15 triệu đồng đấy, anh ạ! Nếu tính cả xã này thì cái lợi mà cơn mưa mang đến là lớn lắm!”.

Chiều hôm trước, tôi ghé lại nhà anh K’Sét (người dân tộc thiểu số) ở thôn 2, xã Đinh Trang Thượng. Con trai đầu của K’Sét là K’Suê lôi từ trong tủ ra đống ảnh khổ lớn “đố” tôi: “Chú nhìn mấy bức ảnh bố cháu chụp ở Hà Nội này xem bố cháu đứng ở đâu?”. Bên ngoài, K’Sét (50 tuổi) râu ria rậm rạp trông cứ như là người ngoại quốc. Trong ảnh, không thấy người nào có râu nên tôi chịu thua K’Suê. K’Sét cười hiền và bảo: “Hồi đó đi Hà Nội, mình chưa để râu. Giờ, càng nhiều tuổi, râu càng nhiều. Mình hai lần được đại diện nông dân người bà con mình đi dự hội nghị điển hình ở Hà Nội, vui lắm!”.


Xoài cao cấp trong vườn cà phê của anh K’Sét hứa hẹn một mùa bội thu

Vườn cà phê tiền tỷ

- “Nghe bảo K’Sét đang “dẫn đầu” về mô hình cà phê xen canh ở huyện, ít nhất là trong đồng bào người dân tộc thiểu số Đinh Trang Thượng. Vậy, cho mình xem tận mắt được không?”. K’Sét bảo: “Mình có 5 ha ở gần đây. 5 ha này “ngon lành” từ nhiều năm nay rồi. Giờ muốn “xem” thì vô trong Liêng Trang để thấy cái mô hình cà phê trồng xen của mình đang gầy dựng 9 ha trong đó”.

Đúng hẹn, sáng hôm sau, tôi vào tận thôn 8 giáp với thôn 9, gần thủy điện Đồng Nai 3 (thuộc vùng đất Liêng Trang xưa). Từ thị trấn Di Linh vào đến vườn “mẫu” của K’Sét khoảng 35 km. Như vậy, K’Sét đã vượt quãng đường hơn 20 km từ nhà (thôn 2, xã Đinh Trang Thượng) vào Liêng Trang để làm cà phê “mẫu”. K’Sét bảo: “Hơn hai năm trước, mình được xã cho đi tham quan học tập mô hình cà phê điểm ở mấy tỉnh Tây Nguyên rồi mới về làm như thế này đây!”. Tôi đã có một buổi sáng dạo đến nhừ chân để tận mắt nhìn thấy mô hình “cà phê xen” của K’Sét. Trên diện tích 9 ha thênh thang này, cà phê là cây trồng không thể thiếu là điều dĩ nhiên rồi, K’Sét còn trồng xen xoài cao cấp, mắc ca và đặc biệt là trồng xen cây pôlôvia. Đó là chưa kể mấy cái hồ vừa chứa nước tưới vừa nuôi cá và các loại cây trồng “chơi” khác như chuối, hoa màu… Riêng cây pôlôvia, K’Sét bảo rằng khi tham quan ở Tây Nguyên, anh đã “chết mê” cái mô hình này nên đã ký hợp đồng với một đơn vị chức năng ở TP. HCM để cung cấp cây giống và kỹ thuật để trồng. “Cứ 8 mét trồng một cây. Tổng cộng gần 3.000 cây pôlôvia đã được trồng. Có cây được ba năm tuổi, cây thì hai, cây thì mới trồng vài tháng”. Pôlôvia hiện đang được xem là “cây đôla” của Tây Nguyên. Tính trung bình cứ 7 năm thì pôlôvia sẽ cho thu hoạch; bình quân mỗi cây cho thu nhập trên dưới 15 triệu đồng. Như vậy, chỉ vài năm nữa, gần 3.000 cây pôlôvia của K’Sét sẽ mang lại một khoản tiền khổng lồ. Thêm nữa, vài chục tấn xoài cao cấp mỗi năm cũng sẽ là một khoản tiền không hề nhỏ. Và, cùng với cà phê, tính ra, mỗi vụ, vườn “cà phê xen” của K’Sét cho thu nhập không dưới 1 tỷ đồng.

Buổi sáng đi thăm vườn, thấy cây cà phê héo lá, tôi ái ngại: “Trời cứ chang chang như thế này, cây bị ảnh hưởng lắm!”. K’Sét nói: “Mình hai đợt tưới cho cây rồi đấy. Mỗi đợt tưới phải mất vài chục triệu đồng. Nếu không mưa, chắc nay mai phải tưới tiếp đợt ba. “Cà” đang bước sang năm thứ năm, vừa ra bông đợt ba, không thể thiếu nước được”. Buổi trưa, bất ngờ một cơn mưa hào phóng tuôn hơn một tiếng đồng hồ. K’Sét vui ra mặt. Tôi nhận ra ly rượu đế cũng ngọt lịm cùng với đĩa thịt heo tộc được người nhà của anh thịt để đãi khách trong buổi trưa này ngay tại vườn cà phê tiền tỷ của K’Sét.

Nỗi lo còn đó

Bữa tiệc nhỏ trong cơn mưa hào phóng ngay tại căn nhà gỗ đơn sơ giữa vườn cà phê có chút cay nên khiến K’Sét hào hứng: “Vụ “cà” vừa rồi tuy giá cả không cao nhưng mình cũng có được vài tỷ, dành phần lớn để đầu tư vào đây. Vụ tới, riêng “cà”, mình tính chắc cũng được hơn hai chục tấn. Có vậy mới đầu tư vào các thứ khác chớ!”.

Ngày trước, khi nói chuyện với đồng bào dân tộc thiểu số ở khắp các buôn làng, tôi không mấy khi được bà con tính đến con số tiền tỷ. Nay thì khác rồi. Với những người làm cà phê vài ba hecta trở lên, chuyện tiền tỷ không còn xa lạ. Tuy nhiên, đầu tư trồng “cà phê no ấm” kiểu như K’Sét thì không phải bà con nào cũng làm được. Đến lúc này, cà phê xen pôlôvia của K’Sét là mô hình đầu tiên trong vùng dân tộc thiểu số của huyện Di Linh (cả huyện chỉ mới có thêm vài ba người Kinh thực hiện mô hình này). Đang nâng ly rượu, bỗng K’Sét trầm giọng: “Bà con mình thiếu vốn là một nỗi lo. Còn cái lo khác là nạn phân giả, phân kém chất lượng mấy năm qua phổ biến ở huyện Di Linh khiến cho nhiều người điêu đứng. Cà phê đang tươi tốt, bỗng “gặp” phải phân kém chất lượng thì coi như mất đứt cả một năm trời! Tiền tỷ coi như trôi xuống sông!”.

Lâm Đồng có đến 135.000 ha cà phê. Một số liệu khác của Sở Công thương Lâm Đồng từng công bố: Có năm, Lâm Đồng phát hiện đến những 250 mẫu phân bón (trong hơn 3.000 mẫu lưu hành) kém chất lượng của 54 đơn vị sản xuất phân bón trong cả nước. 30% phân kém chất lượng trong tổng số 600.000 tấn phân nhu cầu mỗi năm đó đã làm cho vài chục ngàn hecta cà phê của Lâm Đồng bị ảnh hưởng xấu. K’Sét nói với tôi: “Nghe bảo, theo quy định, đơn vị nào mỗi năm có 3 lần bị phát hiện sản xuất phân bón giả mới “bị” công bố danh tánh. Còn nhà vườn chúng tôi, chỉ cần một đợt “dính” phân kém chất lượng thôi là coi như tiền tỷ cả năm trôi vèo xuống suối!”. Nghe K’Sét (một trong những điển hình làm “cà phê no ấm” của người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Đinh Trang Thượng) nói, tôi lại nghĩ đến chuyện thương hiệu cà phê Di Linh: Đây là thương hiệu đã được công nhận. Ở Di Linh, cà phê chiếm đến 70% diện tích đất nông nghiệp của huyện. Vậy, chuyện phân bón kém chất lượng đang lộng hành trong vùng cà phê trọng điểm ắt không là chuyện “xử theo lý” khi sự việc đã xảy ra mà ngay từ đầu, các cơ quan chức năng cần vào cuộc để cho nó đừng xảy ra mới là điều quan trọng.

Thị trường hạt tiêu Việt Nam vẫn “bình chân như vại”

Những ngày qua, biến động giá trên thị trường hạt tiêu Ấn Độ không chỉ làm cho cả thế giới “sững sờ” mà còn làm cho người sản xuất lẫn giới kinh doanh hạt tiêu Việt Nam gần như bị mất phương hướng.

Từ ngạc nhiên…

Nhu cầu hạt tiêu thế giới gia tăng bình quân 5% mỗi năm, nhưng sản lượng tại các nước trồng tiêu sụt giảm nên đã khẳng định trong năm 2011 thế giới sẽ thiếu hụt khoảng 35.000-40.000 tấn hạt tiêu các loại.

Hội nghị quốc tế về hồ tiêu tại Bali Indonesia do IPC tổ chức cuối năm vừa qua tiếp tục khẳng định, năm 2012 thế giới tiếp tục thiếu hụt hạt tiêu mặc dù sản lượng dự kiến sẽ thu được 320.000 tấn so với 298.000 tấn của năm trước. Trong đó các nước sản xuất tiêu hàng đầu là Ấn Độ giảm 5.000 tấn xuống còn 43.000 tấn, Việt Nam sẽ tăng 10% lên 110.000 tấn và Indonesia sẽ tăng 24% lên 35.000 tấn.

Thế mà, giá hạt tiêu kỳ hạn trên thị trường Kochi-Ấn Độ từ đầu năm đến nay chỉ thấy tăng, không hề giảm.

Còn nhớ, kỷ lục trên thị trường kỳ hạn thế giới đầu tiên còn ghi nhận là ngày 1/11/1999 với 265 Rupi/kg cho tiêu xô và 275 Rupi/kg cho tiêu chọn. Đến ngày 30/4/2011, nghĩa là sau hai năm rưỡi, thiết lập mốc kỷ lục mới ở 280 Rupi/kg cho tiêu xô và 290 Rupi/kg cho tiêu chọn. Các nhà quản lý thị trường khi ấy cho rằng giá đang hướng tới mốc 300 Rupi/kg sẽ không còn xa khi mà chưa có năm nào thị trường hạt tiêu thế giới tăng nóng như năm 2011.

Không chỉ như vậy, giá tiêu thế giới đã lập đỉnh kỷ lục của năm 2011 vào ngày 21/9 khi tiêu chọn đạt 364 Rupi/kg và tiêu xô đạt 360 Rupi/kg, mức cao chưa hề có và không một nhà kinh doanh hạt tiêu chuyên nghiệp nào dám nghĩ tới . Sau đó giá tiêu thế giới quay đầu và dự báo hứa hẹn sẽ tăng cao trở lại khi các nước sản xuất chính hoàn tất mùa thu hoạch tiêu năm nay.

Cần khẳng định đến thời điểm này thu hái sớm như Ấn Độ mới chỉ được khoảng 3/4 sản lượng và Việt Nam, nước có sản lượng đứng đầu thế giới, cũng mới chỉ có 1/3 diện tích thu hoạch xong. Nhưng giá hạt tiêu thế giới đã vô cùng nóng. Kỷ lục mới, sớm được thiết lập ngày 7/3/2012 vừa qua, khi thị trường Ấn Độ có giá 400 Rupi/kg cho tiêu xô và 413 Rupi/kg cho tiêu chọn. Mức giá kỷ lục mà theo một nhà môi giới “có nằm mơ cũng không nghĩ đến”, còn các nhà phân tích thị trường hạt tiêu thế giới cũng chỉ biết lặp đi lặp lại mấy từ “tăng, tăng và tăng ; nóng, nóng và nóng ; cay, cay và cay”… để nói về thị trường hạt tiêu Ấn Độ lúc này.

Không chỉ các nhà kinh doanh hạt tiêu thế giới sững sờ ngạc nhiên mà những ai quan tâm đến thị trường hạt tiêu Việt Nam cũng ngạc nhiên không kém, vì “cả thế giới đang xôn xao mà Việt Nam bình chân như vại”…

bieu do gia hat tieu the gioi Thị trường hạt tiêu: Cả thế giới xôn xao, Việt Nam bình chân như vại

…đến mất phương hướng

Khi có thông tin sàn SMX tại Singapore sẽ đưa hạt tiêu vào giao dịch kỳ hạn, nguồn hàng được lấy từ một kho ngoại quan ở Việt Nam, không chỉ làm cho nhà xuất khẩu mà cả nông dân nước ta đều vui mừng. Vì khoảng cách đến với người tiêu dùng được rút ngắn cũng đồng nghĩa là hạt tiêu nước ta bớt được những khâu trung gian và người sản xuất sẽ hưởng lợi. Niềm vui còn nhân lên gấp bội khi trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 10/2/2012, giá khởi điểm của loại tiêu 550 Gr/l, loại tiêu phổ biến ở các nước Đông Nam Á, được ấn định cho kỳ hạn giao tháng 3 là 6.050 USD/tấn.

Nhưng “niềm vui ngắn chẳng tày gang” khi giá tiêu kỳ hạn tại sàn NCDEX (Ấn Độ) liên tục tăng nóng, thiết lập đỉnh mới với giá cao ngất ngưởng lên đến xấp xỉ 8.700 USD/tấn thì tiêu kỳ hạn tại sàn SMX (Singapore) vẫn ì ạch quanh quẩn mức giá 6.000-6.500 USD/tấn, chênh lệch hơn 2.000 USD/tấn, là không thể chấp nhận được.

Các thương lái trong nước những ngày đầu còn theo dõi giá trên sàn Sing để mua bán, rồi sau đó phải đợi giá từ nhà thu mua xuất khẩu. Nhưng đến khi hai sàn trái chiều nhau thì sự lúng túng lộ rõ ở tất cả mọi giới tại thị trường nội địa. Giá mua bán trong ngày phải chỉnh đi chỉnh lại vì không biết nên dựa theo sàn nào. Và gần đây nhất, trong khi sàn Ấn vẫn diễn ra bình thường với khối lượng giao dịch hàng ngày vẫn duy trì khoảng 5-6 ngàn tấn thì sàn Sing không có một hợp đồng mở nào, khiến nhà kinh doanh thực sự mất phương hướng.

Nhìn vào các sàn giao dịch hạt tiêu hiện nay chợt nghĩ: Không biết các nhà quản lý nước ta nghĩ gì khi đã xây dựng sàn BEC (tại Buôn Ma Thuột) lại còn cho sàn hàng hóa Triệu Phong giao dịch cà phê, trong khi ý đồ xây dựng các sàn điều, tiêu là mặt hàng chiếm vị trí số 1 thế giới vẫn cứ bỏ ngỏ. Như vậy xuất khẩu nông sản các loại chiếm vị trí hàng đầu thực sự đã vững chắc hay vẫn còn nhiều phụ thuộc khác nữa?

Anh Văn

Tục “bắt chồng” và chuyện “ăn trái cấm” nam nữ K’ho

Với người K’ho dưới chân núi LangBiang ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, để chính thức trở thành vợ chồng bắt buộc họ phải có với nhau một vài mặt con. Lúc này, nhà gái mới giết heo, mổ trâu tổ chức đám cưới mời phía nhà trai, anh em họ hàng, buôn làng tới ăn mừng. Từ nay đôi lứa mới chính thức thành vợ chồng.

Tình yêu của thiếu nữ K’ho (*1)

Cuộc đấu trí trong đám hỏi

Người K’ho dưới chân núi LangBiang, phụ nữ luôn là trụ cột chính trong gia đình gần như quyết định mọi vấn đề hệ trọng. Và ngay cả trong hôn nhân, họ cũng sẽ là người chủ động đi bắt chồng về nhà ăn nằm với mình.

Đến tuổi cập kê, người con gái bắt đầu làm đẹp, chỉnh trang thân hình, trang phục và đi chơi cùng nhóm bạn trong buôn. Sau một vài bận hẹn hò ở bờ này, bụi nọ, khi đã ưng bụng một người con trai nào đó, người con gái sẽ chủ động đòi cha mẹ đến nhà người mình yêu đặt vấn đề bắt chồng dù người con gái đó có thể chỉ mới ở tuổi 14, 15.

Trong lễ gặp mặt hai gia đình bắt buộc phải có bà mối, người này sẽ đứng ra làm các nghi thức, tạo thành chiếc cầu nối giữa đôi trai gái và gia đình hai bên. Thủ tục đi ăn hỏi của người K’ho rất đơn giản, chỉ một vòng đeo tay và một dây nhòng bằng đồng hoặc bạc. Lễ đi hỏi của nhà gái thường bắt đầu vào lúc 17 giờ khi mặt trời đã khuất dưới dãy núi Langbiang, lúc này tất cả những thành viên trong gia đình nhà trai ở trên rẫy đã trở về nhà, mọi công việc trong ngày của nhà trai hoàn tất. Khi đã đầy đủ những thành viên trong gia đình nhà trai có mặt, nhà gái đặt vấn đề xin bắt chàng trai về ở rể nhà mình. Cùng lúc này, bà mối đeo nhòng vào cổ chàng trai.

Thông thường phía nhà trai sẽ “làm cao” từ chối việc xin bắt chồng của phía nhà gái bằng cách trả lời là: “Con trai tôi còn trẻ, đang ăn bám bố mẹ, chưa có kinh nghiệm trong gia đình đâu. Anh chị thông cảm”.

Không như nhiều dân tộc khác khi bị từ chối cầu hôn người đi hỏi sẽ tự ái bỏ về hoặc không còn thiết tha đi cầu hôn người này cho con mình nữa. Nhưng với người K’ho, lễ cầu hôn thực chất là một cuộc đấu trí giữa gia đình hai bên mà bên nào thua lý, yếu lẽ sẽ bị thất bại. Khi nhà trai từ chối gã con, phía nhà gái sẽ tiếp tục thuyết phục: “Con anh chị hôm nay còn trẻ, không có kinh nghiệm, ngày mai nó sẽ lớn. Người ta có sức đi làm được mười ngày con anh chị cũng sẽ làm được bảy, tám ngày đó thôi”.

Nếu người con trai thật sự không bằng lòng để người con gái bắt mình về nhà họ sẽ trả lời: “Hôm nay con không lấy, ngày mai con cũng không lấy. Con đâu ở dưới nước mà sợ”, sau đó tháo nhòng vừa được nhà gái đeo vào cổ bỏ xuống bàn.

Việc từ chối cầu hôn này sẽ làm tổn thương danh dự của phía nhà gái, buộc nhà trai phải bồi thường danh dự bằng tiền hoặc sản vật trị giá từ 500.000 – 1.000.000 đồng. Nhà gái chỉ cầm vòng tay và nhòng về toàn bộ số tiền trên sẽ dành cho mai mối.

Khoảng một tuần sau, nhà gái cùng mai mối lại đến nhà trai đặt vấn đề bắt chồng cho con. Những lý lẽ thuyết phục nhất sẽ tiếp tục được hai bên đưa ra để đấu trí. Nếu nhà gái vẫn thua, nhà trai chưa chịu cho bắt chồng thì nhà trai lại phải nộp tiền bồi thường danh dự, trả lại vòng tay và nhòng về cho nhà gái.

Theo luật tục của người K’ho, đối với con trai đang trong thời gian có người con gái săn hỏi bắt về làm chồng sẽ không được để ý đến người con gái khác. Và cũng không cho phép bất cứ người con gái nào đến đặt vấn đề bắt người con trai này về làm chồng.

Ông K’Breo Cil, người chuyên nghiêm cứu về luật tục của người K’ho dưới chân núi Lang Biang cho biết, tại địa phương có những đám hỏi kéo dài đến hai, ba tháng mà vẫn chưa thành công. Không thể bắt được chồng người con gái buộc phải đi tìm người con trai khác, riêng gia đình nhà trai tuy không bị mất con những cùng thiệt hại nặng nề về tiền bạc và thời gian.

“Ăn trái cấm” không chịu làm chồng thì…

Ăn trái cấm (*2)

Với người K’ho ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gia đình thường không cấm đôi lứa yêu nhau. Khi đã ưng cái bụng của nhau, nếu thích hai người có thể được tự do chung sống như vợ chồng mặc dù phía nhà gái chưa chính thức đi hỏi.

Thông thường những đôi lứa “ăn cơm trước kẻng”, đã chung sống với nhau như vợ chồng việc hoàn tất các thủ tục để tiến tới hôn nhân không mấy khó khăn và phần lớn là thành công. Tuy nhiên, không phải đôi trai gái nào “ăn trái cấm” trước khi có lời cầu hôn từ phía nhà gái cùng thành vợ chồng.

Khi hai người đã ở với nhau như vợ chồng, nhà gái vẫn sẽ lựa chọn ngày lành tháng tốt sắm vòng tay và nhòng đến nhà trai hỏi xin bắt chồng về cho con.

Người phụ nữ K’ho chỉ cưới chồng khi đã có con

Trong trường hợp này, nếu chàng trai vẫn chưa chịu về nhà vợ làm chồng bà mai mối sẽ hỏi người con gái: “Chúng mày yêu nhau sao giờ nó không chịu nhận làm chồng mày”. Người con gái sẽ trả lời: “Dạ chúng con yêu nhau như vợ chồng”. Mai mối tiếp tục dồn phía nhà trai vào thế yếu lý, thiếu lẽ: “Chúng mày yêu nhau da đã chạm da, thịt đã chạm thịt rồi phải không”.

Chỉ chờ cho có câu hỏi này của người mai mối, người con gái sẽ kể lại toàn bộ việc làm chuyện “vợ chồng” từ khi nào cho gia đình hai bên nghe nhằm mục đích buộc chàng trai phải có trách nhiệm làm chồng của mình.

Thế nhưng, cũng có những chàng trai K’ho vốn “cứng đầu” không chịu nhận trách nhiệm làm chồng mặc dù trước đó đã ăn nằm với người con gái từ lâu. Những người con trai “dám làm không dám chịu” này thường bị nhà gái phạt vạ rất nặng. Vật nộp phạt có thể là một con trâu mộng hoặc tiền tương đương với con trâu (ngày nay khoảng 20 triệu đồng).

Nếu gia đình nhà trai nộp phạt thỏa đáng nhà gái mới cảm thấy danh dự không bị xúc phạm. Nếu nộp phạt ít, nhà gái có thể tự ái bỏ về mà không cần bất cứ vật phẩm phạt vạ nào từ phía nhà trai. Những người con trai này sẽ bị nhà gái xem là đĩ đực, coi thường và khinh rẻ vô cùng. Đối với tộc người K’ho ở chân núi Lang Biang, ai bị xem là đĩ đực và bị coi thường thì rất khó có người xin bắt về làm chồng.

Khi nhà gái đã xin bắt được chồng, ngay trong đêm đó, người con trai có thể theo về nhà gái chung sống. Tuy nhiên, để chính thức trở thành vợ chồng và tổ chức đám cưới buộc họ phải có với nhau một vài mặt con. Nếu không có con thì dứt khoát không thể tổ chức đám cưới.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.