Cao nguyên mùa hoa tam giác mạch

Loài hoa bé li ti trắng phơn phớt hồng đặc trưng của vùng Đông Bắc (Hà Giang) đang nở rộ trên các cánh đồng, sườn núi. Các em nhỏ thơ thẩn dạo chơi, còn các cặp đôi uyên ương tìm đến chụp ảnh.

Đường lên cao nguyên đá Đồng Văn thuộc địa phận xã Sủng Là, Đồng Văn (Hà Giang), hoa tam giác mạch đang nở rộ khắp hai bên sườn núi.

Loài hoa đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc này thường nở vào dịp tháng 10 hàng năm, thu hút đông đảo bạn trẻ từ đồng bằng tìm đến.

Tam giác mạch có đặc điểm màu trắng lại xen một chút phơn phớt hồng.

Vùng có tam giác mạch trồng và nở nhiều nhất cách thị xã Hà Giang hơn 100 km.

Vào đúng thời điểm mùa cưới, nhiều cặp cô dâu, chú rể tìm đến chụp ảnh làm album.

Những em nhỏ dân tộc đẹp hồn nhiên giữa đồng hoa.

Tinh nghịch kết những cành hoa thành vòng tròn quấn quanh cổ.

Loài hoa này vươn cao, trổ hoa, kết hạt, tàn.

Cận cảnh một khóm hoa.

Một nhiếp ảnh gia say mê sáng tác.

Hoa tam giác mạch không chỉ đẹp mà còn được người dân tộc dùng hạt làm thức ăn cho gia súc. Quả của cây cũng có thể xay ra thành bột trộn với ngô dùng để nấu rượu. Theo một người dân nơi đây, một sào ruộng có thể thu hoạch được hơn 20 kg quả tam giác mạch.

Xuất khẩu cà phê: Kim ngạch kỷ lục mà vẫn… lo!

Đó là nhận định chung tại Hội nghị tổng kết niên vụ cà phê 2010 – 2011 do UBND tỉnh Đắc Lắc tổ chức với sự tham dự của đại diện NHNN, Bộ NNPTNT, Hiệp hội cà phê – Cacao Việt Nam (Vicofa).

Ngoài những tồn tại về chất lượng cà phê, đáng lo ngại là sự “biến mất” của nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu Việt Nam và lợi nhuận chủ yếu rơi và tay DN nước ngoài.

Xuất khẩu cà phê
UBND tỉnh Đắc Lắc kiến nghị cần quan tâm đến lợi ích của nông dân
chứ không chỉ các DN xuất khẩu.

Tăng trưởng chưa bền vững

Niên vụ 2010 – 2011 là sản lượng cà phê ổn định ở mức 1,1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt kỷ lục 2,4 tỉ USD, tăng gần 58% so với niên vụ trước đó. Hiện cà phê VN đã có mặt tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo dự báo của Vicofa, sản lượng cà phê niên vụ 2011 – 2012 sẽ khoảng 1,1 triệu tấn do thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh tại một số vùng chuyên canh trọng điểm.

Tuy nhiên, trong niên vụ 2010 – 2011, nhiều nhà máy không hoạt động do thiếu nguyên liệu, lãi suất cao, lợi nhuận thấp. Riêng cà phê arabica, những năm trước hầu hết được chế biến ướt thì 2 niên vụ gần đây có đến 40% chế biến khô, làm giảm chất lượng sản phẩm. Tại Lâm Đồng – “thủ phủ” cà phê arabica, các nhà máy chế biến ướt chủ lực như Công Chính, Dalatcafe đã ngừng hoạt động do thua lỗ, trong khi Hồ Phượng, Thùy Dung, Mercon… thì quy mô nhỏ lẻ. Không chỉ thừa công suất, thiếu nguyên liệu, Vicofa tiếp tục cảnh báo tình trạng thu hái xanh có nguy cơ không kiểm soát được.

Ông Đoàn Xuân Hòa – Cục trưởng Cục Chế biến, thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ NNPTNT – bức xúc: “Hễ giá tăng là nông dân tuốt sạch để bán cho được giá, dẫn đến nghịch lý giá càng cao thì chất lượng càng giảm”. Hệ lụy là nhiều DN xuất khẩu có tên tuổi của VN đã… “biến mất”. Tại Đắc Lắc, từ hàng chục “đại gia”, nay chỉ còn 9 DN xuất khẩu trực tiếp, do bị DN nước ngoài chèn ép. Trên phạm vi toàn quốc, các DN FDI cũng đã thu mua khoảng 50% sản lượng cà phê của VN trong niên vụ vừa qua, đẩy DN trong nước vào tình thế khó khăn, thua lỗ. Theo UBND tỉnh Đắc Lắc, DN FDI thu mua giá cao thì trước mắt là nông dân được lợi, nhưng nếu để họ độc quyền thì rất nguy cho ngành cà phê về lâu dài.

Đề nghị vay ngân hàng nước ngoài

Ông Tạ Quang Khánh – Vụ trưởng Vụ Tín dụng NHNN – cho biết: “UBND tỉnh Đắc Lắc đề nghị NHNN tăng tín dụng xuất khẩu cho tỉnh, giảm bớt thủ tục tiếp cận, chỉ đạo các ngân hàng thương mại tăng thời hạn cho vay với lãi suất ưu đãi. Nhưng tôi xin được trả lời luôn là không thể. Các DN của ta có rất ít tài sản, mà kinh doanh cà phê rất rủi ro, ngân hàng phải đưa ra các điều kiện cần thiết để an toàn vốn. Còn lãi suất ưu đãi thì đề nghị tỉnh liên hệ với Ngân hàng Phát triển của Chính phủ, chứ các ngân hàng thương mại nhiều lắm chỉ có lãi suất hợp lý”. Dù vậy, ông Khánh cũng thông báo một số tín hiệu tốt so với các năm trước, như Agribank đã cam kết tài trợ 5.000 tỉ đồng, Techcombank 2.000 tỉ đồng, Ngân hàng Quân đội và một số ngân hàng khác cũng có thỏa thuận cho vay xuất khẩu cà phê.

Trên thực tế, một số ngân hàng thương mại như Agribank, Vietinbank đã áp dụng lãi suất ưu đãi 16%/năm, đổi lại các DN xuất khẩu phải bán ngoại tệ thu được cho ngân hàng. Ngược lại, ông Lê Đức Thống – TGĐ Cty TNHH MTV XNK cà phê 2.9 Đắc Lắc – cho rằng chính sách tín dụng này chưa giúp DN trong nước “khỏe” lên được. Ông dẫn chứng: “Về lãi suất, mới đây tôi đã vay được lãi suất ưu đãi 15,5% nhưng nếu vay USD thì chỉ có 7%, còn DN nước ngoài vay chỉ 3,7%. Ngoài đề nghị tăng thời hạn vay vốn, chúng tôi xin được vay USD thay cho tiền đồng”.

Để ngành cà phê tăng trưởng bền vững hơn, UBND tỉnh Đắc Lắc kiến nghị Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tạm trữ, trong đó cần quan tâm đến lợi ích của nông dân chứ không chỉ các DN xuất khẩu.

Hoàn thiện dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển vùng Tây Nguyên

le-hoi-tay-nguyenThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có ý kiến về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020.

Theo đó, để Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020 phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; bảo đảm thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu ý kiến các Bộ, ngành, địa phương liên quan, làm rõ vị trí, vai trò và định hướng về phát triển kinh tế của Quy hoạch, bảo đảm được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên lợi thế so sánh.

Đồng thời, xác định những sản phẩm chủ lực của Vùng; nhiệm vụ cụ thể cho một số Bộ, ngành trong việc triển khai thực hiện và giám sát Quy hoạch. Trên cơ sở đó hoàn thiện lại dự thảo Quy hoạch, trình Thủ tướng Chính phủ.

Trước đó, tháng 1/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng Tây Nguyên đến năm 2030.

Nhiệm vụ quy hoạch xác định vùng Tây Nguyên là vùng kinh tế động lực của cả nước về nông, lâm nghiệp, khai thác – chế biến khoáng sản bauxit và vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa xuất khẩu đặc biệt là phát triển thủy điện, thủy lợi.

Đây cũng là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp chủ lực cà phê, hồ tiêu, cao su phục vụ xuất khẩu; là vùng đầu mối, cửu ngõ giao thông về đường bộ, đường hàng không phía Tây của Tổ quốc,… Đồng thời là vùng bảo tồn bản sắc văn hóa lịch sử đặc trưng lâu đời với các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa nhân văn, sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, nghỉ dưỡng cấp quốc gia và quốc tế;…

Thưởng thức cà phê bằng cách xịt vào miệng

Theo giáo sư kỹ thuật y sinh David Edwards tại Đại học Harvard, chúng ta có thể thưởng thức cà phê theo một cách khác thường, đó là xịt vào miệng.

ca phe xit
Sản phẩm cà phê xịt AeroShot

Bình xịt AeroShot mô phỏng các loại dược phẩm hấp thu qua niêm mạc miệng giống dạng thuốc khí dung. Cho nên, dù bận rộn tới đâu dân nghiện cà phê vẫn có thể “uống” một cách thoải mái nhưng không cần pha chế lỉnh kỉnh như thông thường.

Có ba liều cho một bình xịt AeroShot bỏ túi. Có kích cỡ bằng một thỏi son, mỗi lần xịt trực tiếp vào miệng thì niêm mạc và lưỡi sẽ hấp thu chừng 100 mg caffein (bằng hàm lượng có trong một tách trà hoặc ly cà phê chúng ta dùng hằng ngày). Vị ngọt trong cà phê là do dược thảo stevia cung cấp, chất này ngọt hơn đường mía 300 lần nhưng không gây ngộ độc hoặc tiềm ẩn ung thư như đường hóa học và không cung cấp năng lượng. Trong khi đó các vitamin PP, B6, B12 lại được cung cấp đủ với nhu cầu hằng ngày cho một người.

Theo website healthland.time.com, trước đó Giáo sư David Edwards cũng đã từng phát minh loại bình xịt socola với tên gọi Le Whif mà theo ông đó là “cách ăn kiểu mới”. Ông đã thử nghiệm trên chính mình với những liều lượng và hương vị khác nhau. Tất nhiên không thể đáp ứng từng cá nhân.

Theo quy định của Cơ quan quản lý thực phẩm – dược phẩm Mỹ, caffeine được coi là một loại thực phẩm, do vậy AeroShot có thể được bán như một loại thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, trên nhãn của AeroShot vẫn thận trọng ghi: Không dành cho người dưới 12 tuổi, người dị ứng với caffeine, dị ứng với phấn hoa, thai phụ hoặc người có tình trạng nghiêm trọng về y tế… và khuyến cáo không nên dùng quá ba liều (tức 1 ống AeroShot) trong một ngày.

Theo Cocharne thì số liệu nghiên cứu trong năm 2010 cho thấy liều lượng vừa phải của caffeine đã giúp giảm lỗi của công nhân làm ca. Nó cũng giúp cải thiện bộ nhớ, lý luận, nhận thức và sự chú ý so với nhóm dùng giả dược.

Đaklak: Trồng cao su tự phát – lợi bất cập hại !

Giá mủ cao su liên tục tăng trong những năm gần đây khiến người dân nhiều địa phương trong tỉnh đang ồ ạt lấn chiếm đất rừng, chặt bỏ cà phê, điều và nhiều diện tích cây trồng khác để chuyển sang trồng cao su.

Điều này đang gây ra những bất cập lớn không chỉ đối với ngành nông-lâm nghiệp tỉnh mà còn với chính những người nông dân.

Đua nhau trồng cao su

Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Dak Lak: từ năm 2010 đến nay toàn tỉnh đã trồng mới trên 7000 ha cao su, nâng tổng diện tích cao su của tỉnh lên trên 33.000 ha, trong đó cao su đã cho khai thác trên 19.000 ha; tập trung tại các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’leo, Cư M’gar…

Cao su được đánh giá là loại cây trồng khó tính, đòi hỏi phải trồng ở những vùng đất cao, độ thoát nước tốt, và đặc biệt là phải phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng. Tuy nhiên, do nhận thấy lợi nhuận kinh tế cao từ cây cao su, không ít người dân đang đổ xô trồng loại cây này khiến diện tích cao su Dak Lak tăng lên nhanh chóng.

Tại huyện Cư M’gar, với tổng diện tích cao su trên 8.100 ha thì có 68 ha mới trồng từ năm 2010 đến nay. Phần lớn diện tích mới này đều được người dân chuyển đổi từ các rẫy cà phê, điều và vườn cây ăn quả, tập trung trên diện tích lớn hàng chục ha tại các xã Ea H’Đing, Ea Kiết, Cư Suê… có hộ tự đứng ra trồng riêng 1-3 ha, nhiều gia đình ít vốn hơn thì lập thành nhóm 3-5 hộ có đất liền kề, cùng hỗ trợ nhau đầu tư trồng cao su tiểu điền.

Anh Hoàng Văn Sơn ở xã Ea H’Đing cho biết: “việc đầu tư chăm bón cho cây cà phê, điều rất vất vả mà năng suất thấp, giá cả trên thị trường lại bấp bênh; trong khi đó, để chăm sóc một vài ha cao su khá nhẹ nhàng, giá mủ luôn tăng cao. Chính vì vậy, gia đình tôi và nhiều hộ dân trong vùng đã chuyển đổi sang trồng cao su với mong muốn có lợi nhuận cao, ít rủi ro về sâu bệnh và thời tiết…” Hiện gia đình anh Sơn đang tham gia nhóm cùng với 3 hộ dân khác trồng mới được 15 ha cao su từ hơn 1 năm nay.

Tại huyện Buôn Đôn, người dân ở các xã Tân Hòa, Krông Na, Ea Nuôl, Ea Bar… cũng đang đổ xô đầu tư trồng mới nhiều diện tích cao su tiểu điền; đồng thời liên kết với các doanh nghiệp có Dự án trồng cao su trên địa bàn để thực hiện trồng quy mô lớn (doanh nghiệp đầu tư 100% vốn và công chăm sóc, người dân có đất liên kết được hưởng 20- 25% lợi nhuận từ sản phẩm mủ sau khi thu hoạch).

Anh Y Kil Niê, ở xã Ea Nuôl cho hay: gia đình anh có 4 ha cao su, trong đó có 2 ha mới trồng thêm. Nếu mỗi ha cao su kinh doanh thu từ 1,5- 2 tấn mủ/năm, với giá hiện nay khoảng 30.000 đồng/kg, thì hy vọng 5 năm nữa khi lứa cao su mới trồng đi vào thu hoạch ổn định, anh sẽ có thêm 100-120 triệu đồng lợi nhuận mỗi năm.

Trồng cao su
Vườn cao su trồng mới tại huyệnEa H’leo.

Lợi bất cập hại

Việc trồng cao su tự phát, mang tính phong trào như hiện nay đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, tiềm ẩn những nguy cơ đáng lo ngại. Bên cạnh việc phá rừng lấy đất để trồng các loại cây ngắn ngày, nhiều hộ có rẫy gần rừng cũng đang lấn chiếm đất rừng để trồng cao su.

Tại xã Tân Hòa (huyện Buôn Đôn), khi nghe thông tin về việc quy hoạch Dự án trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng trên địa bàn, do Công ty TNHH Sản xuất – Xuất nhập khẩu lương thực Bình Dương (địa chỉ tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) làm chủ đầu tư, người dân nơi đây đã đổ xô đưa các loại cây giống vào đất dự án để trồng “đón đền bù”, trong đó có cả những diện tích đất rừng chưa sử dụng cũng bị người dân chiếm dụng.

Nhiều diện tích rừng tại các huyện Ea H’leo, Ea Súp, Cư M’gar… cũng bị lấn chiếm và tàn phá để lấy đất canh tác loại cây này. Điều đó đang gây khó khăn cho các cơ quan chức năng, Chính quyền địa phương và nhất là những chủ rừng được giao bảo vệ, quản lý.

Bên cạnh đó, khi thành lập các dự án quy hoạch để trồng cao su, nhiều doanh nghiệp đã kêu gọi người dân địa phương góp thêm đất để liên kết trồng cao su, gây nên tình trạng tranh chấp về nguồn gốc đất giữa người dân với nhau; hoặc khi tham gia liên kết thì các doanh nghiệp trên không đủ điều kiện triển khai dự án nên đành bỏ dở…

Chính vì vậy, vừa qua UBND tỉnh đã ra thông báo dừng chủ trương đầu tư đối với 28 dự án trồng cao su tại các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo của các doanh nghiệp tham gia.

Thực trạng trên cũng đang gây ra nhiều áp lực đối với ngành nông nghiệp Dak Lak do việc người dân phá bỏ nhiều diện tích cây trồng lâu năm khác để trồng cao su tiểu điền không theo quy hoạch của ngành, của địa phương, không nghiên cứu đến yêu cầu phát triển của cây cao su, trồng cao su trên những vùng đất không phù hợp, tầng đất mỏng, độ dốc cao, độ lạnh, khô hạn lớn…

Ngay như vụ trồng mới năm nay (bắt đầu từ tháng 6), do khan hiếm cây giống nên nhiều hộ “vét” cả những loại cây không rõ nguồn gốc, trôi nổi trên thị trường để trồng, cộng với thiếu kỹ thuật trồng, chăm sóc nên cây kém phát triển, còi cọc. Còn những diện tích cao su mới trồng từ 4-4,5 năm, chưa đủ tuổi thu hoạch mủ nhưng một số bà con đã tiến hành khai thác, cạo mủ quá cường độ, cạo lặp, phạm, khiến tỷ lệ cây khô miệng cạo khá phổ biến.

Ông Cao Hùng Cường, Phó trưởng phòng trồng trọt, thuộc Sở NN-PTNT tỉnh khuyến cáo: để việc trồng cao su đem lại hiệu quả cao, trước hết người dân cần nắm vững kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác mủ hợp lý; tránh tình trạng trồng ồ ạt, thiếu sự quy hoạch mà phá bỏ những diện tích cây trồng khác đang cho lợi nhuận (bởi cây cao su từ lúc trồng đến khi khai thác mủ phải mất khoảng thời gian khá dài từ 5-6 năm); trong khi việc đầu tư chăm sóc khá tốn kém trong khoảng 4-6 năm đầu; chưa kể giá mủ cao su trên thị trường những năm gần đây có cao, nhưng biến động khó lường. Vì vậy bà con phải cân nhắc kỹ trước khi đầu tư vào loại cây này.

Bộ Công Thương: Giá cà phê sẽ tăng dịp cuối năm

cà phê robustaBộ Công Thương vừa đưa ra dự báo giá cà phê xuất khẩu của VN sẽ tăng trong những tháng cuối năm nay và đầu năm 2012 vì nguồn cung khan hiếm.

Nguyên nhân gây khan hiếm cà phê là do ảnh hưởng tình trạng mưa lũ kéo dài trên diện rộng tại khu vực Trung và Nam Bộ trong tháng 10 vừa qua.

Cũng theo Bộ Công Thương, hiện giá xuất khẩu một số loại cà phê của VN sang các thị trường vẫn cao, như cà phê robusta loại 1 sang Mỹ và Mexico ở mức 2.050 USD/tấn (FOB), sang Nhật Bản ở mức 2.430 USD/tấn; cà phê arabica sang Mỹ dao động 3.300-3.500 USD/tấn. Tính chung 10 tháng năm 2011, giá cà phê xuất khẩu của VN đã tăng 55% so với 10 tháng năm 2010.

Hiện chỉ còn khoảng 160 con Sao la tại Việt Nam

Theo các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hiện đã ghi nhận chỉ còn khoảng 160 con Sao la ở Việt Nam, cư trú tại 50 xã, 20 huyện của 6 tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Nam.

Trong đó, khu vực Thừa Thiên-Huế, Tây Bắc Quảng Nam có số lượng Sao la nhiều nhất, khoảng 40 tới 50 cá thể; Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Nghệ An) và khu vực Tây Nam Quảng Bình, Bắc Hướng Hòa (Quảng Trị) mỗi khu có từ 20 đến 30 cá thể; Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An) và Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) có từ 5 đến 20 cá thể và rải rác ở các nơi khác khoảng 15 đến 20 cá thể.

 Đây chỉ là con số ước tính sơ bộ, tuy nhiên nó cho thấy tình trạng rất đáng lo ngại của quần thể Sao la ở Việt Nam do số lượng cá thể còn ít, phân bố thành các nhóm nhỏ sống rải rác và đang chịu áp lực đáng kể của tình trạng săn bắt và phá hoại sinh cảnh của con người. Bảo tồn Sao la đang là vấn đề được đặt ra cấp thiết ở Việt Nam và được sự quan tâm lớn của các tổ chức bảo tồn trên thế giới.

Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) là loài thú móng guốc lớn, một trong những loài thú hiếm nhất trên thế giới hiện nay. Sao la có nhiều đặc điểm riêng biệt không giống các loài thú khác. Đặc điểm khác biệt là nơi Sao la ăn không có hiện tượng giẫm nát các cây xung quanh như sơn dương, hươu, nai hay bò; cũng không ủi đất và làm rơi vãi các mảnh vụn thức ăn như lợn rừng và đặc biệt là chúng thích ăn cây môn thục (Schismatoglottis Calyptrata) mà nhiều loài động vật khác không ăn với kiểu vừa đi vừa bứt lá nên vệt kiếm ăn thường kéo thành dải dài trên 10m và các cây môn thục bị ăn đến trụi hết lá chỉ để trơ lại cuống.

Sao la lần đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam vào tháng 5-1992 tại Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh). Còn lần đầu tiên Sao la được ghi nhận dấu vết và hình ảnh thực ở Thừa Thiên Huế vào tháng 1-1998 trong trường hợp một con Sao la đực trưởng thành, trọng lượng 52 kg bị mắc nạn ở thôn Hộ, xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ, chỉ cách trung tâm thành phố Huế khoảng 15 km. Theo ghi nhận hiện trường, con vật bị chó nhà đuổi từ núi Rệ về cánh đồng lúa, sau đó người dân địa phương bắt được rồi báo về Chi cục Kiểm lâm. Rất tiếc con Sao la này chết trước khi các cán bộ chuyên môn đến được hiện trường. Hiện tiêu bản con vật này đang được lưu giữ tại Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế.

 Đồng bào Lào đã đánh bẫy được nhưng con Sao la chỉ sống mấy ngày

Theo Sách đỏ Việt Nam vào năm 2007, thì Sao la được xếp vào bậc Nguy cấp (EN). Danh lục đỏ IUCN vào năm 2010 xếp Sao la vào bậc Cực kỳ nguy cấp (CR). Tháng 4-2011, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao la (Saola Nature Reserve) rộng 160 km2 được thành lập ở Quảng Nam, thông với Khu Bảo tồn Sao la rộng 121 km2 của Thừa Thiên-Huế được thành lập ngày 28 tháng 9 năm 2007, giáp với Vườn Quốc gia Bạch Mã.

Các nhà khoa học đặt bẫy ảnh Sao la ở vùng giáp ranh Thừa Thiên-Huế – Quảng Nam.

Sao la là loài động vật lớn có vú đầu tiên trên thế giới được phát hiện kể từ năm 1936. Sao la chỉ sinh sống duy nhất tại dãy núi Trường Sơn thuộc Việt Nam và Lào, cụ thể là tại các khu vực thuộc 6 tỉnh ở Việt Nam và 4 tỉnh ở Lào. Mặc dù hiện nay có rất ít thông tin về loài Sao la, nhưng tổng số sao la trên toàn thế giới ước tính chỉ còn không quá 250 con và trên thực tế có thể thấp hơn nhiều.

Bản tin thị trường cà phê ngày 9/11/2011

Giá cà phê thế giới biến động trái chiều trong phiên giao dịch ngày 8/11, trong đó giá giảm tại New York vì hoạt động chốt lời.

Tại London, giá cà phê robusta các kỳ hạn tăng nhẹ, từ 6 – 10 USD/tấn, trong đó kỳ hạn tháng 1 đóng cửa tại 1.844 USD/tấn.

Khối lượng giao dịch tiếp tục mỏng khi chưa nổi 6.000 lots. Dù xuất hiện nhu cầu mua nhưng hầu hết nhà đầu tư vẫn ái ngại tham gia thị trường khi vị thế bán được thông báo bởi sở giao dịch Liffe trong 2 tuần kết thúc ngày 1/11 tiếp tục tăng lên.

Hiện có thông tin tích cực hỗ trợ cho thị trường này là thời tiết ẩm ướt ở Việt Nam làm cho hoạt động thu hoạch cà phê gặp trở ngại. Các nhà nhập khẩu vẫn tích cực chào mua cà phê Việt Nam với mức trừ lùi 20 USD/tấn so với giá giao tháng 1 tại London.

Thị trường cũng có khả năng đi lên trong vài phiên tới, khi thời tiết ở Indonesia tiếp tục xấu. Các nhà rang xay nước này đang phải mua cà phê trong nước với giá cộng cao ngất ngưởng là 500 USD/tấn so với giá giao tháng 1 tại London cho loại 4, 80 lỗi. Không ít nhà rang xay chuyển qua Việt Nam mua trong tuần này, với giá trừ lùi còn 10 USD, để cạnh tranh với nhà nhập khẩu khác. Việt Nam là nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất.

Tại New York, giá cà phê arabica hôm qua quay đầu giảm sau các phiên tăng liên tục kể từ thứ Tư tuần trước. Chốt phiên, kỳ hạn tháng 3 mất 2,6 cent xuống 233,8 cent/lb.

Thị trường này không có lý do nào giảm ngoài hoạt động chốt lời, vì đồng USD suy yếu và những dấu hiệu tích cực về nợ công châu Âu là các động lực tốt để cho các loại hàng hóa đi lên.

Ở trong nước, giá cà phê nhân xô hôm nay được đại lý và thương lái phát giá phổ biến ở 37,2 -37,7 triệu đồng/tấn, tăng 200 nghìn đồng so với hôm qua.

Nguyễn Hằng (giacaphe.com)

Làm một ly: Để phân biệt đâu là Robusta đâu là Arabica

Bài viết chỉ mang tính giải trí, bà con nào có kinh nghiệm trong lĩnh vực rang xay, chế biến cà phê xin vui lòng chỉ bảo thêm. Xin cám ơn

Trước hết cà phê có hai giống chính khác nhau là Robusta và Arabica. Robusta, như cái tên nó thể hiện, rất là robust, tức là mạnh, là nhiều cafeine, là mất ngủ nhiều. Arabica thì trái lại, ít độc hại hơn, nhưng có nhiều hương thơm (aroma).

Nghệ thuật sản xuất cà phê bắt đầu từ việc lựa chọn hạt cà phê, và pha một tỷ lệ thích hợp giữa hai giống cà phê này.

Rang xay cà phê

Thứ hai , hạt đã được chọn phải được rang như thế nào? Người Ý khi đi sang Trung Quốc, Việt Nam, nhìn thấy các ông “chiên da” tập tọng uống cà phê rang cà phê thì giơ hai tay lên trời mà kêu trời, kêu đất. Rang cà phê trên chảo “quân dụng” nóng có rắc thêm ít bơ cho khỏi cháy thì aroma nó bay lên trời hết rồi, còn đâu cái vị ngon làm điên đảo nhân loại hàng bao nhiêu thế kỷ. Ở phương Tây, cà phê được rang trong nhà máy, bằng hệ thống toàn bộ kín khí cho đến khi hạt cà phê được rang xong và đóng vào túi cũng hút chân không, nên hương vị nó còn giữ được.

Hạt rang xong, trộn xong vẫn chưa phải là hết. Cà phê phải được xay cho đúng, không phải cho vào máy xay công nghiệp xay cho mịn là xong. Máy xay cà phê xịn, riêng lưỡi dao cũng phải đầu tư vài trăm USD, và cứ 3 tháng lại phải thay một lần, lại phải vi chỉnh bằng cách xay, pha, uống thử dăm lần bảy lượt nữa. Tại sao vậy? Vì bột cà phê nếu xay quá thô, thì vị cà phê sẽ nhạt, nhưng nếu xay quá mịn thì vị cà phê sẽ đắng, vì bị “cháy” trong khi pha.

Pha cà phê bằng phin kiểu mà người Việt Nam gọi là kiểu “Pháp” chỉ là cách pha cà phê hạng 3 thôi, nó du nhập được sang Việt nam đơn giản vì nó dễ, không cần kỹ thuật gì cao, mà ai cũng “nhái” theo làm phin pha cà phê cả bằng nhôm, bằng nhựa đều dùng được hết.

Cà phê hạng nhất phải pha chén nào, xay cà phê ngay chén đó. Máy nó pha bằng cách xả hơi nước qua bột cà phê nén chặt. Xì. Vài mươi giây là xong, không đắng, không chua, không quá độc hại. Mà hương vị nó ngon vô cùng.

Hạt cà phê Arabica
Hạt cà phê Arabica sau khi rang

Cà phê Arabica: là loại café hạt hơi dài, được trồng ở độ cao trên 600m, khí hậu mát mẻ, chỉ được trồng chủ yếu ở Braxin, và chiếm tới 2/3 lượng café hiện nay trên thế giới.

Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica va Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở…) rồi rửa sạch rồi sấy. Chính vì thế, vị của Arabica hơi chua, và đây cũng được coi là 1 đặc điểm cảm quan của loại café này. Vì thế, nói đến “hậu vị” của café là có thật, nhưng không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng (kiểu socola ý, sau khi nuốt mới là café ngon). Người ta thường ví vị chua đó giống như khi mình ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng lập tức thấy được vị đắng của vỏ. Cách cảm nhận vị chua của café cũng như vậy.

Cà phê Robusta: hạt nhỏ hơn arabica, và được sấy trực tiếp, chứ không phải lên men, nên vị đắng chiếm chủ yếu, loại này uống phê hơn. Được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, vì thế có mặt ở nhiều nước hơn (VN chỉ trồng loại này), tổng lượng chỉ chiếm 1/3 lượng café tiêu thụ trên toàn thế giới.

Quan trọng đối với quá trình sản xuất café, tất nhiên cũng từ khâu trồng trọt, đất đai… (cái này tôi không biết nên không đi sâu) nhưng lúc chế biến thì là giai đoạn “rang”. Nhiệt độ rang café phải đạt 230-240 độ C nhằm tạo các chất thơm, tạo màu (caramel hoá). Đối với arabica, điều kiện rang không chặt chẽ như robusta vì nó qua lên men, còn bao nhiêu tính chất cảm quan sau này đều nhờ vào quá trình này cả, nên luôn yêu cầu “rang trong điều kiện trên bề mặt thoáng” . Đúng là cần đủ kín để giữ mùi nhưng không có oxy thì làm sao mà tiến hành phản ứng oxyhoá được? Còn thiết bị rang thì thường hình tròn hoặc trụ nhằm tạo điều kiện đảo trộn đều và phân bố nhiệt tốt.

Còn khi pha café, nước là loại ít can-xi nhưng chỉ đun đến khi thấy sủi tăm (khoảng 90-95 độ là tốt nhất, vì nhiệt độ cao sẽ làm bay hơi nhanh và phá vỡ các tinh dầu thơm). Độ mịn của café cũng quan trọng nhưng tuỳ theo loại mà sẽ có yêu cầu khác nhau. Về bình pha, có nhiều loại lắm, không có cái nào giống phin café ở VN cả, nhưng đa số cũng theo nguyên lý như vậy (nước ở trên, phần lọc và café ở giữa, rồi hứng café bên dưới) nhưng cũng có cái thì ngược lại (café ra ở bên trên, nước ở phía dưới) . Còn thực tế, người ta đánh giá café pha bằng máy ở nước ngoài là đạt tiêu chuẩn vì café chỉ pha 1 lần, thời gian tiếp xúc giữa nước và café rất ngắn, nhưng vì dân Châu Âu đa số dùng arabica nên café của họ nhạt và chua.

Khi pha, người ta thường pha chế theo tỷ lệ khác nhau để tạo ra “hiệu quả” khác nhau, việc đánh giá cũng thay đổi theo từng người do tác dụng kích thích của café lên mỗi người là không giống nhau. Uống vài cốc café sẽ có tác dụng tốt, nhưng chỉ cần 10g cafein cũng có thể gây chết người rồi. Uống café thì dùng thìa cũng được, cái chính là thời gian để café lưu trên lưỡi đủ để toàn bộ lưỡi cảm nhận được, còn không, thì trước khi uống, phải cho đầu lưỡi vào cốc, rồi sau đó mới uống từng ngụm nhỏ.

Sưu tầm

Đi đón mùa hoa dã quỳ rực rỡ

Cơn gió lạnh của mùa đông tràn về cũng báo hiệu những bông hoa vàng rực rỡ sắp phủ kín triền đồi ở Đà Lạt, Kon Tum hay dọc theo các nẻo đường ở Mộc Châu, Tam Đảo.

Hoa dã quỳ mọc dại trên những triền đồi hay ven đường từ tháng 11 qua đầu năm năm sau. Bông hoa vàng rực như những mặt trời nhỏ xinh như xua tan đi cái lạnh của mùa đông. Đà Lạt hay các tỉnh Tây Nguyên là nơi có nhiều hoa dã quỳ mọc nhất, thành cả vạt mênh mang tràn sức sống.

Có một truyền thuyết lãng mạn gắn liền với loài hoa này được nhiều bạn yêu thích. Ngày xưa, có đôi uyên ương là K’lang và H’limh sống với nhau rất hạnh phúc. Một bữa, người chồng đi săn mãi không về, H’limh đi tìm mãi không thấy, mệt quá, nàng thiếp đi. Trong giấc mơ, nàng thấy chồng gọi bảo đi tiếp một con suối nữa sẽ gặp được nhau. Tiếp tục đi tìm, H’limh thấy chồng bị những kẻ hung ác bắt giữ, nàng lao ra bảo vệ và bị trúng tên độc của con trai tộc trưởng Lasieng, kẻ ghen tị với tình yêu của hai người. Nơi nàng H’limh qua đời mọc lên loài hoa dã quỳ tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt.

Nếu ở miền Nam, bạn có thể đi ôtô hoặc bay ra Đà Lạt hoặc Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai để ngắm những vạt hoa đẹp tuyệt vời. Với các bạn ở miền Bắc, dù không nhiều nhưng những bụi hoa ở Mộc Châu hay Tam Đảo chắc hẳn cũng giúp bạn thấy chút ấm áp trong tiết trời lạnh.

Mùa thu dài ở Đức

Ở Đức mùa nào cũng đẹp nhưng có lẽ đẹp nhất là mùa thu, mà đặc biệt hơn nữa là thu năm nay dài đến lạ thường.

Có bà con nào dám liều như chàng trai này không?

Lâm Đồng: Nông dân xuất khẩu máy nông nghiệp sang Malaysia

Ngày 8/11, cơ sở nghiên cứu và ứng dụng máy nông nghiệp Hồng Chương (ngụ xã Lạc Lâm, Đơn Dương, Lâm Đồng) cho biết, đã chính thức xuất lô hàng đầu tiên gồm 10 máy nông nghiệp sang Malaysia.

Ông Nguyễn Hồng Chương kiểm tra máy
Ông Nguyễn Hồng Chương kiểm tra máy lần cuối trước khi giao hàng

Lô hàng gồm 5 chiếc máy gieo hạt và 5 chiếc máy đóng giá thể vào vỉ xốp (để gieo hạt giống rau, hoa) được cơ sở Hồng Chương xuất sang một công ty tại Malaysia để phân phối cho các cơ sở gieo ươm hạt giống.

Đây là những loại máy do một nông dân thứ thiệt là anh Nguyễn Hồng Chương sáng chế, được đánh giá có nhiều ưu điểm. Công suất máy tương đương 8 – 12 lao động thủ công, máy tiết kiệm năng lượng từ 6 – 8 lần và giá chỉ bằng 1/4 so với một số loại máy do các nước khác sản xuất đang bán tại Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Hồng Chương, tính đến nay cơ sở của ông đã cung cấp cho các cơ sở gieo ươm trong cả nước được hơn 400 máy gieo hạt và máy đóng đất vào vỉ xốp.

Ngoài ra, ông cũng nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại máy nông nghiệp khác như máy đóng đất vào chậu (để trồng hoa), hệ thống dồn đất vào máy đóng đất và cải tiến máy trộn đất.

Đak Lak: Sản xuất cà phê đang đối mặt với nhiều thách thức

Đak Lak hiện có 190.765 ha cà phê, là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất nước, sản lượng trung bình 400.000 tấn/năm, giá trị xuất khẩu cà phê chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản của tỉnh.

Cà phê hiện là nông sản xuất khẩu chủ lực của tỉnh, có ảnh hưởng trực tiếp đến đại bộ phận nhân dân trên địa bàn. Tuy nhiên, ngành sản xuất cà phê của tỉnh chủ yếu với quy mô nhỏ lẽ mang tính chất nông hộ, đồng thời không chỉ gặp vấn đề khó khăn do số diện tích vườn cây cà phê già cỗi đang ngày càng gia tăng, mà còn phải đối mặt với những khó khăn thách thức về yếu tố tự nhiên, xã hội…

Đầu tư, chăm sóc vườn cà phê ở xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar.
Đầu tư, chăm sóc vườn cà phê ở xã Cuôr Đăng, huyện Cư M’gar.

Hiện nay, ngành sản xuất cà phê tại Đak Lak đã tạo công ăn việc làm ổn định cho trên 300.000 người trực tiếp sản xuất và gần 200.000 người có liên quan đến cây cà phê. Cây cà phê hiện được trồng trên 15 đơn vị hành chính trong tỉnh, chỉ riêng huyện Ea sup có quy mô diện tích không đáng kể (31ha), còn lại hầu hết các địa phương đều có quy mô diện tích từ 1.000ha trở lên. Theo số liệu thống kê, trong vòng 3 năm trở lại đây, chỉ có năm 2009 diện tích cà phê giảm 474 ha, nhưng sang năm 2010 diện tích lại tăng lên 8.805 ha. Đến nay, chỉ có khoảng 15 % diện tích cà phê do 18 công ty thuộc Tổng công ty cà phê Việt Nam và 9 công ty thuộc tỉnh quản lý là tương đối tập trung thành vùng chuyên canh. Hơn 85% diện tích cà phê còn lại là của nông dân tự trồng, chăm sóc và quản lý.

Toàn tỉnh có khoảng 180.500 hộ trồng cà phê, trong đó số hộ có quy mô dưới 0,5 ha chiếm khoảng 35% (hơn 63.000 hộ), hộ có quy mô diện tích từ 0,5 đến dưới 1ha chiếm khoảng 34% (khoảng 61.000 hộ) và quy mô diện tích từ 1ha đến 2 ha gần 24% số hộ, còn lại từ 2 ha trở lên chỉ có hơn 75 số hộ canh tác cà phê (gần 13.000 hộ).

Tuy nhiên, ngành sản xuất cà phê của tỉnh có quy mô nhỏ lẽ mang tính chất nông hộ là chủ yếu, đồng thời, hiện nay ngành sản xuất cà phê của tỉnh không chỉ gặp vấn đề khó khăn do số diện tích vườn cây cà phê già cỗi đang ngày càng gia tăng, mà còn phải đối mặt với những khó khăn thách thức như: hạn hán thường xuyên xảy ra làm giảm năng suất và sản lượng cà phê, có năm mất từ 15 % đến 20%.

Đặc biệt, có những vùng bị hạn hán kéo dài, thiếu nước tưới đã làm mất trắng không cho thu hoạch và ảnh hưởng nghiêm trọng từ 2 đến 3 vụ tiếp theo; gió bão, lũ lụt làm rụng quả, gãy cành, đỗ cây ảnh hưởng đến sản lượng cà phê, nhất là ảnh hưởng của những cơn mừa cuối mùa cùng với thời kỳ đầu vụ thu hoạch đã làm giảm chất lượng sản phẩm do hạn chế hệ thông kho, thiết bị chế biến, tổn thất sau thu hoạch tăng lên; sâu bệnh gây hại trên cây cà phê, tuy không xảy ra thường xuyên nhưng cũng ảnh hưởng đáng kế đến năng suất, sản lượng.

Ngoài ra, còn do biến động về giá cả cà phê nhân tăng thất thường, giá cả vật tư đầu vào các loại, chi phí vận chuyển liên tục tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp người sản xuất; tình trạng thiếu lao động, nhất là thời kỳ thu hoạch chính vụ ngày càng gia tăng đã tác động đến giá thành sản phẩm và chất lượng sản xuất.

Giá cà phê vẫn còn điêu đứng

Giá cà phê nhân xô nội địa sáng nay ở quanh mức 37.000 đồng/kg sau khi xuống mức thấp 35.000 đồng hoàn toàn nhờ vào may rủi của giá đóng cửa thị trường kỳ hạn robusta Liffe. Từ đầu mùa đến nay (mới hơn 1 tháng), giá cà phê điêu đứng dù lượng hàng robusta xuất khẩu của nước ta áp đảo “toàn thiên hạ”.

Hôm qua, ngày đầu tuần 7-11-2011, tức rạng sáng 8-11 theo giờ Việt Nam, giá đóng cửa kỳ hạn robusta ăn may tăng 30 đô la/tấn, đạt mức 1.836 đô la/tấn.

Giá đóng cửa robusta Liffe từ đầu tháng 11 đến nay
Giá đóng cửa robusta Liffe từ đầu tháng 11 đến nay

Dự báo luôn trật chìa

Cuối tuần trước, Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt nam (Vicofa) đã có cuộc họp tổng kết niên vụ 2010/11 và bàn phương hướng cho niên vụ mới 2011/12 tại TPHCM.

Theo báo cáo tổng kết niên vụ cũ, Vicofa cho rằng sản lượng cà phê của nước ta đạt 1,3 triệu tấn (tương đương với 21,6 triệu bao 60 kg) lấy theo con số của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNN) với năng suất bình quân 2,3 tấn/héc ta.

Về thương mại, theo Tổng cục Hải quan (TCHQ), Việt nam xuất khẩu chừng 1,28 triệu tấn (21,3 triệu bao), đạt kim ngạch 2,7 tỉ đô la, tăng 56% so với niên vụ trước. Như vậy, con số sản lượng chừng 18 triệu bao mà Vicofa thường công bố trong nhiều lần họp trước đã bị Vicofa bỏ quên và chính thức xác nhận các con số của Bộ NN&PTNT và TCHQ là đúng.

Vicofa cũng dự báo sản lượng cho niên vụ mới, ước đạt 18,33 triệu bao. Song, con số này xem ra khó thuyết phục và như một ý kiến bên lề của cuộc họp cho rằng “công bố ấy chỉ để chơi cho vui”.

Thu hoạch chưa rộ, giá vẫn đì đạch

Với 1,28 triệu tấn cà phê xuất khẩu, Việt Nam một lần nữa khẳng định sức mạnh về nguồn hàng cà phê của mình trên thương trường. Đến nay, có thể nói rằng chưa có nước nào thay thế được nguồn hàng cà phê robusta bao la từ nước ta.

Nếu như Brazil và Indonesia xuất khẩu robusta đang ít dần do họ để dành cho tiêu thụ nội địa vì giá arabica quá mắc,  Bờ biển Ngà (Ivory Coast) vừa qua gặp nhiều bất ổn về chính trị nên hạn chế xuất khẩu, thì thị trường robusta trong thời gian qua hầu như nằm trong tay Việt Nam về mặt sản lượng. Được mùa, giá không vì thế mà mất.

Trong suốt cả niên vụ cũ, giá tăng đều, có lúc đạt đến các mức kỷ lục lịch sử như giá nội địa tăng đến 52.000 đồng và giá xuất khẩu loại 2, 5% đen bể có lúc công hơn mức 200 đô la Mỹ/tấn trên mức chuẩn thị trường kỳ hạn robusta Liffe.

Rất tiếc, cơ hội ấy hình như đã không còn vì giá cả từ đầu vụ bắt đầu từ ngày 1-10-2011 đến nay nói lên chuyện ấy. Thực vậy, giá trên thị trường kỳ hạn (TTKH) robusta Liffe, giá xuất khẩu và cả nội địa đều phải điêu đứng từ bấy đến nay dù các nước xuất khẩu với nhiều lý do khác nhau đã hạn chế bán ra rất nhiều.

Có thể nói rằng khả năng làm giá của Việt Nam, nước sản xuất và xuất khẩu robusta hàng đầu thế giới, hoàn toàn bị động theo các yếu tố bên ngoài chứ không do nội lực của bản thân sức mạnh nguồn hàng của mình.

Nếu như giá TTKH ngày đầu vụ đóng cửa trên mức 2.000 đô la/tấn thì mấy ngày gần đây chỉ quanh mức 1.800-1.850 đô la/tấn (biểu đồ 1). Trong thời gian vừa qua, giá cà phê robusta hoàn toàn bị treo trên “đầu môi chót lưỡi” của nhiều vị lãnh đạo các nước châu Âu và Mỹ về giải quyết khủng hoảng nợ tại châu Âu hay chòng chành theo số mệnh của đồng đô la trên thị trường hối đoái quốc tế.

Như có hôm giá đồng đô la Mỹ tăng do ngân hàng Nhật can thiệp mua vào, giá cà phê khắp nơi đều rớt. Hầu như, bên trời Tây có chuyện chẳng lành, giá cà phê Việt Nam đều phải chịu trận.

Cả hơn nửa tuần nay tại các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ, mưa lại về, hàng lại chậm ra. Song, không vì thế mà giá hết lao đao. Đến cuối tuần qua, giá kỳ hạn robusta Liffe cơ sở tháng 1-2011 chỉ còn 1.806 đô la/tấn, đưa giá nội địa xuống mức chừng 35.000-36.000 đồng/kg, mất hết 16.000 đồng/kg so với đỉnh điểm thiết lập trước đây trong năm nay.

Một điều kỳ lạ làm cho giới kinh doanh cà phê phải suy nghĩ là báo cáo tồn kho có giấy xác nhận giảm mạnh thêm một lần nữa, giá vẫn không thoát khỏi cảnh khó. Tính đến ngày 31-10, tồn kho được xác nhận chất lượng Liffe chỉ còn 332.280 tấn, giảm 18.240 tấn (biểu đồ 2). Đây là lần giảm thứ 8 liên tiếp tính từ đỉnh đạt được mức 417.420 tấn vào ngày 10-7 vừa qua.

Lượng tồn kho có xác nhận chất lượng Liffe giảm lần thứ 8 liên tiếp
Lượng tồn kho có xác nhận chất lượng Liffe giảm lần thứ 8 liên tiếp

Thị trường vẫn còn đầy gian truân

Bất đồng giữa các thế lực kinh tế, đặc biệt giữa liên minh châu Âu (EU) và Mỹ đã làm nhiều thị trường khốn đốn, vẫn chỉ tạo điều kiện cho một nhóm đầu cơ tài chính trên thế giới lợi dụng thời cơ để kiếm lời. Sau khi đẩy giá kỳ hạn tăng mạnh vào tháng 3-2011, có khi lên gần mức “bong bóng” 2.700 đô la/tấn cà phê nhân robusta, đầu cơ tài chính đã quyết định “xì hơi” dần giá cà phê xuống chỉ còn quanh mức 1.800-1.850 đô la/tấn. Nhưng, cũng chưa ai dám nói rằng đây đã là điểm dừng hay chưa.

Đầu cơ tài chính thế giới, với vụ mùa “bội thu” tài chính vừa qua trong kinh doanh cà phê, họ đã triệt hạ thành công nhiều đối thủ, trong đó có nhiều nhà xuất khẩu lớn của Việt Nam dính đòn vì thiếu thận trọng và mất cảnh giác, có thể đang đi dần vào khúc quanh “thân bại danh liệt”, lắm công ty xù hàng.

Song, nhiều người trong ngành cà phê vẫn còn rất mơ hồ đối với hiểm họa “đầu cơ” ấy, vẫn chưa tìm được các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu và triệt để đối với các thế lực đầu cơ quốc tế đang dùng hạt cà phê Việt Nam để kiếm lợi trên nỗi lo của người nông dân cà phê Việt Nam.

Tuy đã có cố gắng tìm một số biện pháp để giảm thiểu rủi ro, ngành xuất khẩu cà phê vẫn đang còn lúng túng tìm đường dù đã có trên 20 năm kinh nghiệm xuất khẩu trực tiếp mặt hàng này.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.